BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI TÂN

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Screenshot_1309.png

    Lịch sử ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.Chào mừng quý vị đến với Website của Thư viện trường Tiểu học Hải Tân, thành phố Hải Phòng!
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Cuộc chiến lỗ đen

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Thu
    Ngày gửi: 14h:44' 06-01-2025
    Dung lượng: 2.9 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    Chủ biên: PHẠM VĂN THIỀU


    NGUYỄN VĂN LIỄN



    VŨ CÔNG LẬP

    THE BLACK HOLE WAR.
    Copyright © 2006 by Spin Networks, Ltd.
    All rights reserved.
    Bản tiếng Việt © Nhà xuất bản Trẻ, 2010
    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

    Susskind, Leonard
    Cuộc chiến lỗ đen / Leonard Susskind ; ng.d. Phạm Văn Thiều, Phạm Thu Hằng. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2010.
    530 tr. ; 21 cm. - (Khoa học và khám phá).
    Nguyên bản : The black hole war.
    1. Hawking, S. W.(Stephen W.). 2. Thuyết lượng tử. 3. Lý thuyết tương đối tổng quát (Vật lý). 4. Lỗ đen (Thiên văn học).
    Không gian và thời gian. I. Phạm Văn Thiều d. II. Phạm Thu Hằng d. III. Ts: The black hole war.

    5.

    530.12 — dc 22
    S964

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    Điều gì đã thổi lửa vào các phương trình
    và làm cho chúng có thể mô tả được vũ trụ?
    Stephen Hawking

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    MỤC LỤC
    Mở đầu

    9
    Phần I
    TÍCH BÃO

    1.
    2.
    3.
    4.
    5.
    6.
    7.
    8.
    9.











    Phát súng đầu tiên
    Sao tối
    Không phải hình học thời ông nội bạn
    “Einstein, đừng có bảo Chúa phải làm gì”
    Planck đã phát minh ra cái thước còn tốt hơn
    Trong một quán bar ở Broadway
    Năng lượng và entropy
    Bạn có thể nhét bao nhiêu thông tin vào một lỗ đen
    Ánh sáng đen

    24
    34
    62
    94
    134
    141
    152
    172
    189

    Phần II
    CUỘC TẤN CÔNG BẤT NGỜ
    10. Stephen đã để mất các bit của mình và không biết
    phải tìm chúng ở đâu
    214
    11. Sự chống trả của người Hà Lan
    231
    12. Ai quan tâm chứ?
    239
    13. Sự bế tắc
    253
    14. Vụ đụng độ ở Aspen
    270

    7
    MỞ ĐẦU

    https://thuviensach.vn

    Phần III
    PHẢN CÔNG
    15.
    16.
    17.
    18.






    Cuộc chiến ở santa barbara
    Khoan đã! Hãy đảo ngược lại sự thay đổi nhận thức
    Ahab ở Cambridge
    Thế giới là bức toàn ảnh

    278
    315
    322
    344

    Phần IV
    KẾT THÚC CUỘC ĐẤU
    19. Vũ khí suy luận ra hàng loạt
    364
    20. Máy bay của Alice, hay cánh quạt nhìn thấy được cuối cùng

    417
    21. Đếm lỗ đen
    430
    22. Nam Mỹ đã thắng trong cuộc chiến
    465
    23. Vật lý hạt nhân ư? Anh không đùa đấy chứ!
    492
    24. Sự khiêm nhường
    505


    Vĩ thanh

    516



    Thuật ngữ

    523

    8
    CUỘC CHIẾN LỖ ĐEN

    https://thuviensach.vn

    MỞ ĐẦU

    Có thật nhiều thứ để tìm hiểu, nhưng cũng thật ít thứ
    đã được hiểu một cách thấu đáo.
    Robert A. Heinlein
    NGƯỜI LẠ TRONG VÙNG ĐẤT LẠ

    Ở ĐÂU ĐÓ TRÊN ĐỒNG CỎ ĐÔNG PHI, một con sư tử già đang rình

    bữa tối mong đợi của nó. Nó ưa những con mồi già và chậm chạp
    hơn, nhưng con linh dương non tơ và khỏe mạnh là lựa chọn duy
    nhất của nó lúc này. Đôi mắt cảnh giác ở hai bên đầu của con mồi
    thật lý tưởng để quét khắp xung quanh nhằm phát hiện những
    con thú ăn thịt nguy hiểm. Đôi mắt con thú săn mồi nhìn thẳng ra
    phía trước, thật hoàn hảo để khóa chặt nạn nhân trong tầm nhìn
    và ước lượng khoảng cách.
    Lúc này, cặp mắt quét một góc rộng của con linh dương không
    phát hiện ra con sư tử và nó thong thả đi vào vùng nguy hiểm. Hai
    chân sau mạnh mẽ của con sư tử bật mạnh đẩy nó về phía con mồi
    đang hoảng loạn. Và thế là cuộc đua vô tận lại bắt đầu.
    Mặc dù đã nặng nề bởi tuổi tác, con mèo lớn này vẫn là một
    kẻ chạy nước rút vượt trội. Ban đầu, khoảng cách chỉ là rất nhỏ,
    nhưng các cơ co giãn nhanh đầy dũng mãnh của con sư tử dần dẫn

    9
    MỞ ĐẦU

    https://thuviensach.vn

    đến sự mất ôxi. Sức chịu đựng tự nhiên của con linh dương nhanh
    chóng thắng thế, và tại thời điểm nào đó thì vận tốc tương đối của
    con sư tử và con mồi đảo chiều; khoảng cách sít sao lại được nới
    rộng ra. Cái khoảnh khắc mà nó cảm nhận được sự đảo chiều này
    của số phận, cũng là lúc Chúa rừng xanh hiểu rằng mình đã thất
    bại. Nó bèn lẩn trở lại vào một bụi cây thấp.
    Năm mươi ngàn năm trước, một người thợ săn mệt mỏi đã phát
    hiện ra một cái hang mà lối vào bị lấp bởi một tảng đá: quả là một
    nơi an toàn để nghỉ ngơi nếu anh ta dời được chướng ngại vật nặng
    đó đi. Không giống như tổ tiên mình là loài khỉ, người thợ săn đã
    có dáng đi thẳng. Trong tư thế đó, anh ta đẩy mạnh tảng đá nhưng
    chẳng ăn thua gì. Để có góc đẩy tốt hơn, anh ta đặt chân mình cách
    xa tảng đá hơn. Và khi cơ thể anh ta gần như nằm ngang, lực tác
    động bây giờ có thành phần theo hướng đúng lớn hơn nhiều so
    với khi ở tư thế đứng thẳng. Và tảng đá đã nhúc nhích.
    Khoảng cách? Vận tốc? Đổi chiều? Góc đẩy? Lực? Thành phần?
    Những tính toán phức tạp tới mức khó lòng tin nổi nào đã diễn ra
    trong bộ não còn hồn nhiên của người thợ săn, chứ đừng nói gì
    đến con sư tử? Đó là những khái niệm có tính kỹ thuật mà người
    ta thường gặp lần đầu tiên trong các cuốn sách giáo khoa vật lý ở
    trường đại học. Vậy thì làm thế nào mà con sư tử biết được cách
    ước lượng không chỉ vận tốc của con mồi, mà quan trọng hơn, là
    cả vận tốc tương đối nữa? Phải chăng người thợ săn đã theo học
    một giáo trình vật lý để biết được khái niệm về lực? Và cả lượng
    giác để biết tìm sin và cos phục vụ cho việc tính toán các thành
    phần của lực?
    Sự thực, tất nhiên là tất cả những cơ thể sống phức tạp đều sẵn
    có những khái niệm vật lý bản năng được “thiết đặt” như phần
    10
    CUỘC CHIẾN LỖ ĐEN

    https://thuviensach.vn

    cứng cố định trong hệ thần kinh nhờ quá trình tiến hóa1. Nếu
    thiếu những phần mềm vật lý được lập trình sẵn này, thì không
    thể nào có thể sống sót được. Sự đột biến và chọn lọc tự nhiên đã
    biến tất cả chúng ta, và ngay cả động vật, đều trở thành các nhà
    vật lý. Ở con người, kích thước lớn của não đã cho phép những
    bản năng này tiến hóa thành các khái niệm mà chúng ta mang ở
    cấp độ ý thức.

    Tự thay đổi hình mẫu nhận thức
    Trong thực tế, tất cả chúng ta đều là những nhà vật lý cổ điển2.
    Chúng ta cảm nhận được lực, vận tốc và gia tốc ở cấp độ bản năng.
    Trong tiểu thuyết giả tưởng Người lạ trong một vùng đất lạ (1961),
    Robert Heinlein đã phát minh ra một từ để biểu đạt sự hiểu biết
    trực giác sâu xa và gần như là bản năng về một hiện tượng: đó là
    từ grok. Tôi grok được lực, vận tốc và gia tốc. Tôi grok được không
    gian ba chiều. Tôi grok được thời gian và ký hiệu của số 5 trên mặt
    con xúc xắc . Các quỹ đạo của một viên đá hay một mũi lao đều
    có thể grok được. Nhưng nhận thức sẵn có và bản năng của tôi
    lại thất bại khi tôi thử áp dụng nó vào không thời gian 10 chiều,
    hoặc con số 101000, hoặc thậm chí còn tệ hơn với thế giới của các
    electron và Nguyên lý bất định của Heisenberg.
    1

    Không ai thực sự biết bao nhiêu khái niệm đã sẵn có và bao nhiêu được học từ
    khi mới ra đời, song sự khác biệt đó ở đây không quan trọng. Vấn đề là theo thời
    gian, hệ thần kinh của chúng ta trưởng thành lên, có kinh nghiệm, loại cá nhân
    hay tiến hóa, đều mang lại cho chúng ta nhiều hiểu biết bản năng về sự vận hành
    của thế giới vật chất. Dù là cài đặt sẵn hay học hỏi được ở độ tuổi còn rất trẻ, thì
    những kiến thức đó cũng rất khó có thể phai mờ.

    2

    Từ cổ điển chỉ vật lý học không bao hàm Cơ học lượng tử.
    11
    MỞ ĐẦU

    https://thuviensach.vn

    Vào đầu thế kỷ 20, cảm nhận trực giác đã hoàn toàn thất bại;
    vật lý học bất ngờ bị lúng túng trước các hiện tượng hoàn toàn
    khác thường. Ông nội của tôi mới 10 tuổi khi Albert Michelson
    và Edward Morley khám phá ra rằng chuyển động theo quỹ đạo
    của Trái Đất trong môi trường ête giả định là không thể phát hiện
    được1. Electron vẫn chưa được biết đến cho tới khi ông tôi 20 tuổi;
    ông 30 tuổi vào năm Albert Einstein công bố Thuyết tương đối hẹp,
    và ông ở tuổi trung niên khi Heisenberg phát minh ra Nguyên lý
    bất định. Không có cách nào để áp lực tiến hóa có thể tạo ra được
    sự nhận thức một cách bản năng về những thế giới hoàn toàn
    khác biệt đó. Nhưng có điều gì đó trong hệ thần kinh của chúng
    ta, ít nhất là ở một số trong chúng ta, đã được chuẩn bị sẵn cho
    một sự thay đổi nhận thức tuyệt vời, cho phép chúng ta không chỉ
    biết đặt câu hỏi về những hiện tượng còn mù mờ này mà còn đưa
    ra được những khái niệm toán học trừu tượng – những khái niệm
    mới, hoàn toàn phi trực giác – để xử lý và giải thích chúng.
    Tốc độ đã đặt ra yêu cầu đầu tiên phải thay đổi nhận thức –
    tốc độ nhanh đến mức nó gần như sánh bằng vận tốc của một tia
    sáng. Trước thế kỷ 20, không động vật nào di chuyển nhanh hơn
    100 dặm một giờ, và ngay cả ngày nay, ánh sáng truyền đi nhanh
    tới mức mà đối với tất cả, trừ các mục đích khoa học, nó dường
    như chẳng có truyền đi gì hết: nó xuất hiện ngay tức thời khi ánh
    sáng được bật lên. Loài người ban đầu không có nhu cầu phải
    được “lắp sẵn” những nhận thức tương thích với tốc độ siêu cao
    như tốc độ ánh sáng.
    1

    Thí nghiệm nổi tiếng của Michelson và Morley lần đầu tiên cho thấy vận tốc ánh
    sáng không phụ thuộc vào chuyển động của Trái Đất. Nó dẫn đến những nghịch
    lý mà cuối cùng Einstein đã giải quyết được trong Thuyết tương đối hẹp của ông.
    12
    CUỘC CHIẾN LỖ ĐEN

    https://thuviensach.vn

    Việc thay đổi nhận thức do tốc độ đã xảy đến một cách đột ngột.
    Einstein không phải là một đột biến; ông đã phải vật lộn với sự mù mờ
    này cả chục năm để thay thế hệ thống Newton cũ. Nhưng đối với các
    nhà vật lý thời đó thì dường như, trong số họ, phải tự phát xuất hiện
    một loại người mới – những người có khả năng nhìn thế giới không
    phải qua không gian ba chiều, mà là qua không-thời gian bốn chiều.
    Einstein đã phải vật lộn thêm một thập kỷ nữa – lần này theo
    quan điểm đơn thuần của các nhà vật lý – là để thống nhất cái mà
    ông gọi là Thuyết tương đối hẹp với Thuyết hấp dẫn của Newton.
    Kết quả của nó – Thuyết tương đối rộng – đã làm thay đổi một cách
    sâu sắc tất cả các quan niệm truyền thống về hình học. Không-thời
    gian trở nên mềm dẻo, có thể uốn cong hoặc cuộn lại. Nó trông
    giống như một tấm cao su căng bị một vật nặng đè lên. Trước đó,
    không-thời gian là bị động và các tính chất hình học của nó đều là
    cố định. Theo Thuyết tương đối rộng thì không-thời gian lại như
    một người chơi chủ động: nó có thể bị biến dạng bởi các vật thể
    nặng như các hành tinh, các ngôi sao, nhưng lại không thể nào
    hình dung được – mặc dù không phải vì thiếu toán học hỗ trợ.
    Vào năm 1900, năm năm trước khi Einstein bước lên sân khấu,
    một sự thay đổi hình mẫu tư duy còn kỳ quặc hơn nhiều đã diễn ra
    cùng với việc khám phá ra ánh sáng được tạo bởi các hạt được gọi
    là photon, hay đôi khi còn gọi là lượng tử ánh sáng. Thuyết photon1
    ánh sáng chỉ là một dấu hiệu báo trước một cuộc cách mạng sắp
    diễn ra; sự rèn luyện trí tuệ bây giờ còn trừu tượng hơn bất kỳ thứ
    gì được chứng kiến từ trước đến nay. Cơ học lượng tử còn hơn cả
    một định luật mới của tự nhiên. Nó liên quan đến việc thay đổi các
    1

    Thuật ngữ photon bắt đầu được sử dụng vào năm 1926, do nhà hóa học Gilbert
    Lewis đặt ra.
    13
    MỞ ĐẦU

    https://thuviensach.vn

    quy tắc của logic cổ điển, những quy tắc thông thường của tư duy
    mà mọi người có đầu óc tỉnh táo bình thường đều sử dụng để đưa
    ra các suy luận. Nó dường như còn thật điên rồ. Nhưng dù có điên
    rồ hay không thì các nhà vật lý vẫn có thể thay đổi được nhận thức
    của mình theo logic mới gọi là logic lượng tử. Trong Chương 4, tôi
    sẽ giải thích mọi điều bạn cần biết về Cơ học lượng tử. Hãy chuẩn
    bị để cho nó làm cho bạn phải hoang mang. Ai cũng đều thế cả.
    Thuyết tương đối và Cơ học lượng tử ngay từ đầu đã là hai kẻ
    đồng hành bất đắc dĩ. Ngay khi chúng bị buộc phải làm đám cưới,
    thì bạo lực đã nổ ra – toán học ở đây đã đẻ ra những đại lượng vô
    hạn không kiểm soát nổi cho mọi câu hỏi mà một nhà vật lý có thể
    đặt ra. Phải mất nửa thế kỷ thì Cơ học lượng tử và Thuyết tương
    đối hẹp mới cơm lành canh ngọt với nhau. Vào đầu những năm
    1950, Richard Feynman, Julian Schwinger, Sin-Itiro Tomanaga, và
    Freeman Dyson1 đã đặt nền móng cho sự kết hợp của Thuyết tương
    đối hẹp và Cơ học lượng tử, cái được gọi là Lý thuyết trường lượng
    tử. Song Thuyết tương đối rộng (sự kết hợp giữa Thuyết tương đối
    hẹp của Einstein và Thuyết hấp dẫn của Newton) và Cơ học lượng tử
    thì vẫn không thể dung hòa được với nhau, mặc dù đã có rất nhiều
    công sức được bỏ ra. Feynman, Steven Weinberg, Bryce DeWitt, và
    John Wheeler đều đã cố gắng “lượng tử hóa” các phương trình hấp
    dẫn của Einstein, song tất cả đều dẫn đến những kết quả vô giá
    trị. Có lẽ điều đó cũng không có gì phải ngạc nhiên. Cơ học lượng
    tử chi phối thế giới của những vật thể rất nhẹ. Ngược lại, hấp dẫn
    dường như chỉ ảnh hưởng đối với những khối vật chất rất nặng. Sẽ
    là an toàn khi giả định rằng không có gì là đủ nhẹ để Cơ học lượng
    1

    Năm 1965, Schwinger và Tomanaga đã nhận được giải Nobel cho các nghiên cứu
    của họ. Song trong cách tư duy hiện đại về Lý thuyết trường lượng tử cũng có
    nhiều công của Dyson cũng như những người khác.
    14
    CUỘC CHIẾN LỖ ĐEN

    https://thuviensach.vn

    tử là quan trọng đồng thời lại đủ nặng để hấp dẫn cũng có ảnh
    hưởng. Do đó, nhiều nhà vật lý trong suốt nửa sau thế kỷ 20 đã coi
    việc theo đuổi một lý thuyết thống nhất vô nghĩa như thế là không
    đáng, nó chỉ thích hợp với những kẻ lập dị và các triết gia mà thôi.
    Nhưng những người khác thì lại coi đây là một quan điểm thiển
    cận. Đối với họ, ý tưởng cho rằng hai lý thuyết về tự nhiên không
    tương thích với nhau – thậm chí trái ngược nhau – là điều không thể
    dung thứ nổi về mặt trí tuệ. Họ tin rằng hấp dẫn hầu như chắc chắn
    cũng đóng một vai trò nào đó trong việc quyết định các tính chất của
    những viên gạch nhỏ bé nhất cấu tạo nên vật chất. Vấn đề là các nhà
    vật lý chưa thăm dò tới mức đủ sâu. Thực sự thì họ đã đúng: khi đi
    xuống tới tận đáy của thế giới, nơi mà những khoảng cách là cực nhỏ
    không thể quan sát được một cách trực tiếp, thì những vật thể nhỏ
    nhất của tự nhiên lại tác động những lực hấp dẫn mạnh lên nhau.
    Ngày nay nhiều người tin rằng hấp dẫn và Cơ học lượng tử
    sẽ đóng vai trò quan trọng ngang nhau trong việc quyết định
    đến các định luật của các hạt cơ bản. Nhưng kích thước của các
    viên gạch cơ bản của tự nhiên nhỏ đến mức khó có thể tưởng
    tượng nổi, nên sẽ chẳng có ai ngạc nhiên nếu như cần phải có
    một sự thay đổi nhận thức triệt để mới hiểu được chúng. Nhận
    thức mới này, dù là gì đi nữa, sẽ được gọi là hấp dẫn lượng tử,
    song ngay cả khi còn chưa biết dạng chi tiết của nó ra sao, chúng
    ta vẫn có thể nói một cách an toàn rằng hình mẫu tư duy mới
    này sẽ gắn với những quan niệm rất lạ lẫm về không gian và thời
    gian. Tính hiện thực khách quan của vị trí không gian và của các
    thời điểm sẽ trở nên lỗi thời giống như tính đồng thời1, như quyết
    1

    Một trong những điều đầu tiên đi cùng với cuộc cách mạng tương đối vào năm
    1905 là ý tưởng cho rằng hai sự kiện có thể xảy ra đồng thời một cách khách quan.
    15
    MỞ ĐẦU

    https://thuviensach.vn

    định luận1 và như loài chim cưu đã tuyệt chủng vậy. Hấp dẫn
    lượng tử mô tả một thực tại mang tính chủ quan hơn nhiều so
    với chúng ta tưởng. Như chúng ta sẽ thấy ở Chương 18, đó là một
    thực tại mà, trên nhiều phương diện, giống như những ảo ảnh
    ba chiều ma quái được tạo bởi một bức ảnh toàn ký (hologram).
    Các nhà vật lý lý thuyết đang nỗ lực để giành được chỗ đứng
    vững chắc trong một vùng đất lạ. Giống như trong quá khứ, những
    thí nghiệm tưởng tượng đã soi rọi nhiều nghịch lý và mâu thuẫn
    giữa các nguyên lý cơ bản. Cuốn sách này viết về một cuộc đấu trí
    chỉ về một thí nghiệm tưởng tượng. Năm 1976, Stephen Hawking
    đã tưởng tượng ném một mẩu thông tin – một quyển sách, một
    chiếc máy tính, hay thậm chí một hạt cơ bản – vào một lỗ đen.
    Hawking tin rằng lỗ đen là những cái bẫy tối hậu và mẩu thông tin
    đó sẽ bị biến mất vĩnh viễn, không bao giờ có thể truy xuất lại được
    đối với thế giới bên ngoài. Nhận xét có vẻ ngây thơ này lại hầu như
    không phải ngây thơ như ta tưởng; nó đe dọa sẽ làm nổ tung và lật
    nhào toàn bộ tòa nhà vật lý học hiện đại. Có điều gì đó khủng khiếp
    như một cơn sốc; định luật cơ bản nhất của tự nhiên – sự bảo toàn
    thông tin – đã bị đe dọa nghiêm trọng. Đối với những ai lưu tâm thì
    hoặc là Hawking sai hoặc là trung tâm ba trăm năm tuổi của vật lý
    học đã không còn đứng vững nữa.
    Lúc đầu rất ít người quan tâm đến vấn đề này. Trong gần hai
    thập kỷ, sự tranh cãi diễn ra âm ỉ. Nhà vật lý vĩ đại người Hà Lan
    Gerard't Hooft và tôi là một đội quân gồm hai người ở một bên
    chiến tuyến. Còn Stephen Hawking và một nhóm nhỏ các nhà
    1

    Quyết định luận là một nguyên lý mà theo nó tương lai hoàn toàn được quyết định
    bởi quá khứ. Theo Cơ học lượng tử, các định luật vật lý có tính chất thống kê và
    không gì có thể tiên đoán được một cách chắc chắn.
    16
    CUỘC CHIẾN LỖ ĐEN

    https://thuviensach.vn

    nghiên cứu thuyết tương đối thì ở chiến tuyến đối nghịch. Phải
    đến đầu những năm 1990, hầu hết các nhà vật lý lý thuyết – đặc
    biệt là những nhà lý thuyết dây – mới bừng tỉnh trước sự đe dọa
    mà Hawking đặt ra, và sau đó họ hầu hết đều cho rằng nhận xét
    đó là sai. Dù sao thì cũng sai trong một khoảng thời gian.
    Cuộc chiến lỗ đen thực sự là một cuộc tranh luận khoa học –
    nó không có gì giống với những cuộc tranh luận giả hiệu về thiết
    kế trí tuệ, hay sự tồn tại của sự nóng lên toàn cầu. Những tranh
    luận giả hiệu kiểu đó, được những nhà vận động chính trị bày
    đặt ra để làm mụ mị công chúng ngây thơ, chứ chẳng hề phản
    ánh bất kỳ một sự khác biệt thực sự nào về mặt khoa học. Ngược
    lại, sự phân định trong vấn đề lỗ đen là rất hiện thực. Những nhà
    vật lý lý thuyết kiệt xuất vốn không bao giờ nhất trí với chuyện
    tin những nguyên lý nào và vứt bỏ những nguyên lý nào của vật
    lý. Liệu họ theo Hawking, với quan điểm bảo thủ về không-thời
    gian, hay là theo 't Hooft và tôi, với quan điểm bảo thủ của chúng
    tôi về Cơ học lượng tử? Mọi quan điểm dường như đều chỉ dẫn
    tới nghịch lý và mâu thuẫn. Hoặc không-thời gian – cái sân khấu
    nơi các định luật của tự nhiên trình diễn – không thể là những gì
    mà chúng ta vẫn nghĩ, hoặc các nguyên lý thiêng liêng về entropy
    và thông tin là sai. Hàng triệu năm tiến hóa về nhận thức và mấy
    trăm năm kinh nghiệm của vật lý học một lần nữa lại đùa cợt
    chúng ta và chúng ta tự cảm thấy mình cần phải có những thay
    đổi về nhận thức.
    Cuộc chiến lỗ đen là sự ca tụng trí tuệ loài người và khả năng
    tuyệt vời của nó trong việc khám phá các định luật của tự nhiên.
    Đó là sự lý giải về một thế giới ở quá xa các giác quan của chúng
    ta, còn xa hơn cả Cơ học lượng tử và Thuyết tương đối. Hấp dẫn
    17
    MỞ ĐẦU

    https://thuviensach.vn

    lượng tử xem xét các đối tượng nhỏ hơn hàng trăm tỉ tỉ lần so với
    một prôton. Chúng ta chưa bao giờ từng trực tiếp tiếp xúc với
    những vật nhỏ đến như vậy và có thể sẽ không bao giờ, nhưng sự
    khéo léo của loài người sẽ cho phép chúng ta suy luận ra sự tồn tại
    của chúng, và thật đáng kinh ngạc, cổng vào thế giới đó lại chính
    là những vật thể với kích thước và khối lượng cực lớn: các lỗ đen.
    Cuộc chiến lỗ đen cũng là một cuốn biên niên sử về một khám
    phá. Nguyên lý toàn ảnh là một trong những khái niệm trừu tượng
    và phi trực giác nhất trong toàn bộ vật lý học. Đó là sự tích tụ của
    hơn hai thập kỷ đấu trí về số phận của thông tin khi bị rơi vào một
    lỗ đen. Đó không phải là một cuộc chiến tranh giữa các đối thủ
    hung hãn, mà thực sự ở đây tất cả những người tham chiến chủ
    yếu đều là bạn bè. Song đó là một cuộc chiến ác liệt về những ý
    tưởng giữa những người tôn trọng nhau một cách rất sâu sắc nhưng
    cũng bất đồng với nhau không kém phần sâu sắc.
    Có một quan niệm phổ biến cần phải được xóa bỏ. Hình ảnh
    chung mà công chúng thường hình dung về các nhà vật lý, đặc
    biệt là các nhà vật lý lý thuyết, đó là những người trông vụng về,
    hẹp hòi, những người chỉ quan tâm đến người ngoài hành tinh,
    không phải con người và hết sức tẻ nhạt. Không gì sai sự thực hơn
    những điều như thế. Những nhà vật lý vĩ đại mà tôi biết, và rất
    nhiều người trong số họ, là những người cực kỳ hấp dẫn với những
    đam mê mãnh liệt và trí tuệ tuyệt vời. Sự phong phú về tính cách
    và cách thức tư duy của họ thật vô cùng thú vị đối với tôi. Viết về
    vật lý cho công chúng mà không bao hàm yếu tố con người thì đối
    với tôi dường như thiếu đi điều gì đó hết sức thú vị. Trong khi viết
    cuốn sách này, tôi đã cố gắng thể hiện cả khía cạnh cảm xúc của
    câu chuyện cũng như khía cạnh khoa học của nó.
    18
    CUỘC CHIẾN LỖ ĐEN

    https://thuviensach.vn

    Ghi chú về những con số rất lớn và rất bé
    Xuyên suốt cuốn sách này, bạn sẽ gặp rất nhiều con số rất lớn
    và rất bé. Não của con người không được cấu tạo để hình dung
    các con số lớn hơn nhiều so với 100 hoặc nhỏ hơn nhiều so với
    1/100, song chúng ta có thể tự rèn luyện để hình dung được tốt
    hơn. Chẳng hạn, khi đã rất quen xử lý các con số, tôi có thể hình
    dung ra con số lớn hơn hoặc nhỏ hơn 1 triệu, nhưng sự khác biệt
    giữa một ngàn tỉ và một nghìn triệu triệu thì vượt xa khả năng
    hình dung của tôi. Rất nhiều con số trong cuốn sách này vượt xa
    hàng ngàn tỉ và nghìn triệu triệu. Làm thế nào để chúng ta có thể
    nắm bắt được chúng? Câu trả lời liên quan đến một trong những
    kỳ công thay đổi nhận thức vĩ đại nhất mọi thời đại: sự phát minh
    ra số mũ và ký hiệu khoa học.
    Hãy bắt đầu với một con số tương đối lớn. Dân số trên Trái đất
    vào khoảng 6 tỉ người. Một tỉ là 10 nhân với chính nó 9 lần. Nó
    cũng có thể được biểu thị bằng số 1 với 9 số 0 đằng sau.
    Một tỉ = 10 × 10 × 10 × 10 × 10 × 10 × 10 × 10 × 10 = 1.000.000.000

    Một ký hiệu tắt cho 10 nhân với chính nó 9 lần là 109, hay đọc
    là mười lũy thừa 9. Vì vậy, dân số Trái đất có thể được biểu thị một
    cách ngắn gọn bằng đẳng thức dưới đây:
    6 tỉ = 6 × 109.
    Trong trường hợp này, 9 được gọi là số mũ.
    Còn đây là một con số lớn hơn nhiều: tổng số prôton và nơtron
    trên Trái đất. Số prôton và nơtron trên Trái đất (xấp xỉ) bằng
    5 × 1051
    19
    MỞ ĐẦU

    https://thuviensach.vn

    Con số này rõ ràng lớn hơn rất nhiều so với dân số trên Trái
    đất. Nhưng lớn hơn nhiều chừng nào? 10 lũy thừa 51 là một tích
    có 51 thừa số 10, mà 1 tỉ thì chỉ có 9 thừa số như vậy. Do đó, so
    với 109, 1051 có nhiều hơn 42 thừa số 10. Điều này làm cho số các
    hạt tạo nên hạt nhân trên Trái đất gấp khoảng 1042 lần so với dân
    số. (Hãy lưu ý là tôi đã bỏ qua các nhân tử 5 và 6 ở các phương
    trình trên. Nhưng 5 và 6 không hơn kém nhau nhiều, vì vậy nếu
    bạn chỉ muốn có một “đánh giá về bậc độ lớn” thôi, thì bạn có
    thể bỏ qua chúng).
    Hãy lấy hai con số thực sự lớn khác. Tổng số các electron trong
    phần vũ trụ nhìn thấy được bằng kính viễn vọng mạnh nhất là
    khoảng 1080. Tổng số photon1 là khoảng 1090. Giờ thì 1090 có vẻ như
    không lớn hơn nhiều lắm so với 1080, nhưng thực tế không phải
    như vậy: 1090 lớn hơn gấp 1010 lần và 10.000.000.000 là một con số
    rất lớn. Trong thực tế 1080 và 1081 trông gần như nhau, song con số
    thứ hai lớn hơn con số thứ nhất 10 lần. Vì vậy một sự thay đổi nhỏ
    ở số mũ có nghĩa là một sự thay đổi lớn ở con số mà nó biểu thị.
    Bây giờ chúng ta hãy xét đến các số rất nhỏ. Kích thước của
    một nguyên tử là vào khoảng 1 phần 10 tỉ mét. Nếu ký hiệu ở dạng
    thập phân thì:
    Kích thước của nguyên tử = 0,0000000001 mét.
    Lưu ý là số 1 ở vị trí thập phân thứ 10. Ký hiệu khoa học cho 1
    phần 10 tỉ liên quan đến số mũ âm, tức là -10.
    0,0000000001 = 10-10
    1

    Đừng nên nhầm lẫn phôton với prôton. Phôton là các hạt ánh sáng, còn prôton cùng
    với nơtron tạo nên hạt nhân nguyên tử.
    20
    CUỘC CHIẾN LỖ ĐEN

    https://thuviensach.vn

    Con số với số mũ âm là rất nhỏ và con số với số mũ dương là
    rất lớn.
    Hãy xét một số nhỏ hơn nữa. Các hạt cơ bản, như electron chẳng
    hạn, rất nhẹ so với các vật thông thường. Một kilôgam bằng khối
    lượng của 1 lít nước. Khối lượng của một electron nhỏ hơn rất
    nhiều. Trong thực tế, khối lượng một electron khoảng 9 × 10-31kg.
    Cuối cùng, phép nhân và phép chia sẽ là rất đơn giản khi sử
    dụng ký hiệu lũy thừa. Tất cả những gì bạn phải làm là cộng hoặc
    trừ các số mũ. Dưới đây là một số ví dụ.
    1051 = 1042 × 109
    1081 : 1080 = 10
    10-31 × 109 = 10-22
    Số mũ không chỉ là cách ngắn gọn duy nhất được sử dụng để
    biểu thị các số vô cùng lớn. Một vài con số như vậy còn có tên riêng.
    Ví dụ, một googol là 10100 (1 với 100 số 0 đằng sau) và một googolplex
    là 10googol (1 tiếp sau là một googol số 0), một số cực kỳ lớn.
    Với những kiến thức cơ bản này, giờ ta hãy chuyển sang thế
    giới phần nào đó ít trừu tượng hơn – ở đây là San Fracisco ba năm
    thuộc nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống Ronald Reagan – cuộc
    chiến tranh lạnh đang ở đỉnh điểm của nó và một cuộc chiến tranh
    mới sắp sửa bắt đầu.

    21
    MỞ ĐẦU

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    PHẦN I

    Tích bão
    Lịch sử sẽ đối xử tốt với tôi, vì tôi có ý định viết nên nó
    Winston Churchill1

    Tiêu đề của Phần I và Phần IV trong cuốn sách này được vay mượn từ tên Tập 1
    và Tập 4 của cuốn hồi ký Lịch sử Chiến tranh Thế giới thứ II của Thủ tướng Anh
    Churchill.

    1

    https://thuviensach.vn

    1
    PHÁT SÚNG ĐẦU TIÊN

    San Francisco, 1983
    NHỮNG ĐÁM MÂY ĐEN của chiến tranh đã tích tụ hơn 80 năm cho

    đến khi xảy ra cuộc giao tranh đầu tiên trong căn phòng áp mái
    tòa biệt thự của Jack Rosenberg ở San Francisco. Jack, còn được
    biết đến với cái tên Werner Erhard, là một tay thủ lĩnh, một người
    chào hàng siêu hạng và ít nhiều là một kẻ bịp bợm. Trước đầu
    những năm 1970, ông ta chỉ đơn giản là Jack Rosenberg, người
    chuyên chào bán các bộ bách khoa thư. Rồi một hôm, trong lúc
    đi qua cầu Cổng vàng, ông ta chợt ngộ ra rằng mình có sứ mệnh
    cứu vớt thế giới và trong khi làm việc đó, ông ta kiếm được một tài
    sản kếch sù. Tất cả những gì ông ta cần là một cái tên nghe thật
    kinh điển và một cách chào hàng thật mới mẻ. Tên mới của ông
    sẽ là Werner (lấy từ Werner Heisenberg) Erhard (từ tên của một
    chính khách người Đức là Ludwig Erhard); cách chào hàng mới
    sẽ là Những seminar huấn luyện (Erhard Seminars Training), viết
    tắt là EST. Và ông ta đã thành công, nếu không phải trong việc
    cứu rỗi thế giới thì ít nhất cũng là phát tài. Hàng ngàn người mắc
    chứng bất an, hay xấu hổ đã trả hàng trăm đôla cho mỗi lần để
    được nghe thuyết giảng, bị công kích liên tục và (theo giai thoại)
    24
    CUỘC CHIẾN LỖ ĐEN

    https://thuviensach.vn

    họ không thể đi toilet trong suốt các cuộc seminar truyền cảm
    hứng kéo dài tới 16 giờ liền do Werner hay nhiều học trò của ông
    ta tổ chức. Nó rẻ hơn và nhanh hơn nhiều so với liệu pháp tâm lý,
    và về một phương diện nào đó, còn hiệu quả hơn. Hay xấu hổ và
    thiếu tự tin lúc mới vào, những người tham dự dường như trở nên
    tự tin, mạnh mẽ và thân thiện hơn – giống như Werner – lúc đi ra.
    Đừng bận tâm rằng đôi khi họ có vẻ như rất giống các rôbốt bắt
    tay, vui buồn thất thường. Điều quan trọng là họ đã cảm thấy khá
    hơn. “Việc đào tạo” thậm chí còn là chủ đề của một bộ phim rất
    hài hước được gọi là Semi - Tough do Burt Reynolds thủ vai chính.
    Các fan của EST luôn vây xung quanh Werner. Nô lệ thì dứt khoát
    là một từ nghe quá mạnh; có lẽ gọi họ là các tình nguyện viên thì đúng
    hơn. Có cả những đầu bếp do EST đào tạo để nấu ăn cho ông ta, tài
    xế để lái xe đưa ông ta quanh thị trấn và đủ thứ người phục vụ trong
    nhà đều được bố trí trong ngôi biệt thự của ông ta. Nhưng trớ trêu
    thay, bản thân Werner cũng lại là một fan – một fan của vật lý học.
    Tôi thích Werner. Ông ta thông minh, thú vị và vui tính. Và ông
    ta lại mê vật lý. Ông muốn trở thành một phần của nó và vì vậy
    đã tiêu hàng đống tiền để mời nhóm các nhà vật lý lý thuyết hàng
    đầu đến biệt thự của mình. Đôi khi chỉ là một vài người bạn thân
    đặc biệt của ông như Sidney Coleman, David Finkelstein, Dick
    Feynman, và tôi gặp nhau tại nhà ông ta cùng ăn một bữa tối tuyệt
    vời do những đầu bếp danh tiếng phục vụ. Nhưng chủ yếu thì
    Werner thích tổ chức những hội thảo nhỏ, đỉnh cao. Với một phòng
    hội thảo được trang bị đầy đủ tiện nghi trên tầng áp mái, một đội
    ngũ tình nguyện viên sẵn sàng phục vụ cho mọi ý thích nảy sinh
    của chúng tôi, và San Francisco như là một nơi gặp gỡ, giao lưu,
    các cuộc hội thảo nhỏ đó lúc nào cũng rất vui vẻ. Một số nhà vật
    lý có vẻ nghi ngại Werner. Họ cho rằng ông ta sử dụng vật lý làm
    25
    TÍCH BÃO

    https://thuviensach.vn

    con đường vòng để quảng cáo cho bản thân, nhưng ông ấy không
    bao giờ làm vậy. Cho đến giờ tôi có thể nói ông ấy chỉ muốn nghe
    những ý tưởng mới nhất từ chính những người đang ấp ủ chúng.
    Tôi nhớ là cả thảy có ba hay bốn cuộc hội thảo EST, nhưng
    chỉ có một cuộc là để lại dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tôi,
    và trong nghiên cứu vật lý học của tôi. Đó là năm 1983. Trong số
    những vị khách trứ danh khác, còn có Murray Gell-Mann, Sheldon
    Glashow, Frank Wilczek, Savas Dimopoulos, và Dave Finkelstein.
    Nhưng trong câu chuyện này thì những vị khách quan trọng nhất
    là ba chiến binh chính trong Cuộc chiến lỗ đen, đó là Gerard't
    Hooft, Stephen Hawking và bản thân tôi.
    Mặc dù mới gặp Gerald chỉ vài lần trước năm 1983, nhưng
    ông ấy đã để lại ấn tượng rất mạnh đối với tôi. Mọi người đều
    biết rằng ông ấy rất xuất sắc, nhưng tôi cảm giác còn hơn thế rất
    nhiều. Con người ông dường như có lõi thép và một trí tuệ kiên
    cường vượt lên trên bất kỳ ai mà tôi đã từng biết, có lẽ chỉ trừ có
    Dick Feynman. Cả hai đều rất thích tự thể hiện mình. Dick là một
    người Mỹ ngông nghênh, luôn có thái độ bất kính và tỏ ra hơn
    hẳn những người khác. Một lần, giữa một nhóm các nhà vật lý
    trẻ tuổi ở Caltech1, ông đã kể một câu chuyện cười mà các nghiên
    cứu sinh đã chọc ghẹo ông. Ở Pasadena có một hiệu bánh chuyên
    bán bánh sandwich “những người nổi tiếng”. Bạn có thể mua một
    chiếc bánh Humphrey Bogart, Marilyn Monroe hay bánh gì đó đại
    loại như vậy. Các nghiên cứu sinh đã đưa ông tới đó ăn trưa – tôi
    nghĩ chắc là vào dịp sinh nhật của ông – và lần lượt từng người đã
    gọi món sandwich Feynman. Họ đã âm mưu với người quản lý cửa
    hàng từ trước, nên người đứng sau quầy mặt cứ tỉnh bơ.
    1

    T
    ên viết tắt của Viện Công nghệ California – một trường đại học danh tiếng của
    Mỹ (ND)
    26
    CUỘC CHIẾN LỖ ĐEN

    https://thuviensach.vn

    Sau khi ông kết thúc câu chuyện, tôi bảo: “Này, Dick, mình tự
    hỏi có gì khác nhau giữa sandwich Feynman và sandwich Susskind
    không nhỉ”.
    “Ồ, chúng cũng gần như nhau cả thôi”, Dick đáp, “ngoại trừ
    sandwich Susskind sẽ cần nhiều giăm bông hơn”.
    “À phải”, tôi đáp lại, “nhưng chắc là ít những thứ nhảm nhí hơn
    nhiều”. Đó có lẽ là lần duy nhất tôi đã đánh bại ông ấy trong trò
    chơi kiểu đó.
    Gerald là người Hà Lan. Họ vốn là những người cao lớn nhất ở
    Châu Âu nhưng Gerald lại thấp lùn và chắc nịch, với hàng ria mép
    và vẻ ngoài trông như một gã tỉnh lẻ. Giống như Feynman, 't Hooft
    có tính ganh đua rất mạnh, song tôi chắc rằng mình sẽ chẳng bao
    giờ thắng được ông. Không giống Feynman, ông là một sản phẩm
    của Châu Âu già cỗi – nhà vật lý Châu Âu vĩ đại cuối cùng, người kế
    thừa trọng trách của Einstein và Bohr. Tuy ông ấy trẻ hơn tôi đến
    6 tuổi, song vào cái năm 1983 đó tôi đã rất kính trọng ông ấy và
    cũng là hoàn toàn đúng đắn thôi. Năm 1999, Gerald đã được trao
    giải thưởng Nobel nhờ những công trình dẫn tới Mô hình Chuẩn
    của các hạt...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI TÂN - TP. HẢI PHÒNG !