Lịch sử ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.Chào mừng quý vị đến với Website của Thư viện trường Tiểu học Hải Tân, thành phố Hải Phòng!
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Đaghextan của tôi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thu
Ngày gửi: 15h:13' 20-07-2025
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thu
Ngày gửi: 15h:13' 20-07-2025
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Làm ebook: Quang Huy QPVN (huyqpvn@gmail.com)
Ngày hoàn thành: 1/11/2015
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
QUYỂN 1
Người dịch: Phan Hồng Giang (phần thơ do bằng Việt dịch)
Người biên tập: Bùi Văn Hòa
Họa sĩ: Enkônina N. M.
© Bản dịch tiếng Việt, Nhà xuất bản Cầu vồng, 1984 - In tại Liên Xô
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Nói về Raxun Gamzatop có nghĩa là nói về Đaghextan, xứ sở trên vùng
núi Kapkazơ, nơi có 36 dân tộc đang chung sống, trong đó có dân tộc Avar.
Raxun Gamzatop là người Avar. Thêm nữa: nói về Raxun Gamzatốp có
nghĩa là nói về thơ ca, nói tới những trang ghi thêm vào thơ ca của Raxun
Gamzatop, một trong những nhà thơ Đaghextan nổi tiếng nhất, tác giả của
hàng chục cuốn thơ, trong đó có «Thơ bát cú» Gamzatop rất xuất sắc, vì nó
là sự tái tạo thể thơ cổ vốn có sức quyến rũ tâm hồn và nhạc cảm. Nói về
Raxun Gamzatop cũng tức là nói tới Gamzát Xađax, người đã làm rất nhiều
cho việc giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân gian của dân tộc Avar. Có lẽ
chúng ta sẽ bắt đầu từ đó. Nếu như lướt qua cuốn Từ điển bách khoa Liên-xô
chúng ta sẽ đọc được những dòng: «Xađax Gamzát (1877- 1951) nhà thơ
Xô-viết người Avar, nhà thơ nhân dân của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết Đaghextan (1934). Ông là cha của Raxun Gamzatốp..” Vâng, rõ ràng
điều đó có nhiều ý nghĩa - ra đời trong gia đình một nhà thơ lớn, người đã đi
vào lịch sử phát triển tinh thần của dân tộc mình. Điều đó cũng buộc Raxun
phải nghĩ tới nhiều thứ. Và vấn đề không chỉ ở chỗ Raxun là con trai của
Gamzát, viết văn từ rất sớm, năm 14 tuổi đã được in. Cần phải tìm cho ra
con đường của mình, cũng như bản thân mình trong nghệ thuật; thế mà điều
này lại rất không đơn giản, khi bên cạnh anh là một tài năng lớn, khi tên tuổi
cha anh đầy ý nghĩa đối với dân tộc anh vừa soi sáng cho anh vừa động viên
anh. Raxun đã lớn lên trên chiếc cây gia tộc mình như là một nhánh vững
trãi, đáng tin, đẹp đẽ, một nhánh cây đã đâm hoa kết trái làm sống lại dòng
nhựa của rễ cây bền vững lâu đời. Hôm nay đây Raxun Gamzatôp - cũng
như cha ông - là nhà thơ nhân dân Đaghextan. Ông là thành viên của Chính
phủ, đại biểu Xô-viết tối cao Liên-xô, người được Giải thưởng Lênin. Và
thêm nữa, ông được mọi người yêu mến. Là người được độc giả và thính giả
yêu mến, Raxun Gamzatop thường phát biểu, tiếp xúc với một cử tọa rộng
lớn và đa dạng. Ông là người được dân tộc mình, được vùng núi Kapkazơ và
tất cả đất nước Xô-viết yêu mến. Do đó khi Raxun viết xong cuốn văn xuôi
này cũng đã gây nên được một sự quan tâm và hiếu kỳ to lớn. Qua những
nhận xét đầu tiên người ta thấy rõ rằng cuốn sách đã thành công...
Chúng ta cần kể về điều đó, bởi vì độc giả tương lai nhất định cần biết
Raxun Gamzatop, con người yêu đời vĩ đại đó, người biết mừng vui vì cuộc
sống, biết thưởng thức cuộc sống và chính bản thân mang cho cuộc sống ánh
sáng và niềm vui, con người ấy là ai vậy. Song kể về cuốn sách «Đaghextan
của tôi» khó khăn hơn là kể tóm tắt về tác giả của nó. Bói vì đây không phải
tiểu thuyết, cũng không phải truyện vừa, đây không phải ký sự cũng không
phải tư liệu. Đây là tác phẩm văn xuôi vượt ra ngoài định nghĩa và biến thể
của loại hình văn học. Nó rất tự do và theo nghĩa ấy có thể ví nó như con
chim bay và từ trên cao thấy rõ như trong lòng bàn tay, những núi non, khe
vực thân thuộc, những làng mạc và phố phường, những nhà cửa và chợ búa,
những con chim ưng và những con dê, niềm vui và nỗi lo lắng, quá khứ và
có lẽ, cả tương lai. Nhìn chung nó là cuốn sách tự truyện, chỉ có điều đó là
tiểu sử nhiều cốt truyện, nhiều giọng nói: tiểu sử của nhà thơ, tiểu sử làng
bản thân thuộc và tiểu sự dân tộc... cuốn tiểu sử tự thuật nhiều thành phần
này lại giàu chất thơ và rất chân thành. Nó đậm sắc trữ tình, nó dược sưởi ấm
bởi sự hài hước nhẹ nhàng, nó được chiếu sáng bởi sự láu lỉnh - cái láu lỉnh
tinh nghịch dí dỏm - chẳng khác nào trong chiếc tráp cổ kính không chỉ có
một đáy mà trong mỗi đáy, lại còn chứa những điều bí mật của nó. Raxun
Gamzatop biết sử dụng khéo léo ngôn ngữ huyền diệu của dân gian giàu
nhạc điệu và đầy màu sắc, đồng thời biết hòa trộn bất ngờ các sắc điệu văn
phong rồi nói lên bằng ngôn ngữ tươi mới và phóng khoáng của người
đương thời.
Cốt lõi của cuốn sách vẫn là phương pháp văn học hết sức giản dị.
Dường như Raxun Gamzatop xin ý kiến độc giả và viết lời tựa cho cuốn sách
tương lai cửa mình. Ông suy nghĩ kỹ càng về cuốn sách ấy, thấy khoái cảm
vì nó, ông như quên đi những âm điệu khác nhau và những kiến giải cùng
chiều, ông nhớ lại, ông suy ngẫm, ông trò chuyện với độc giả, với những
người quen, với những người thân thuộc và người cùng làng. Ông cho chúng
ta biết một lượng thông tin thú vị nhất về Kapkazơ, về Thơ ca, về Cuộc sống,
về Con người, về Lịch sử. Tác phẩm được thêm vào nhiều truyện vừa mà
mỗi truyện ấy cũng có thể thành một tác phẩm riêng. Đây đó trong tác phẩm
ông tung ra nhiều câu tục ngữ, ngạn ngữ, ông kể những chuyện vui và cả
những chuyện buồn đã xẩy ra với chính tác giả, với bạn bè ông hoặc nó còn
được giữ lại từ lâu trong ký ức của nhân dân. Tác giả không sợ phải ngắt
mạch truyện của mình bằng một cốt truyện khác, ông như đi lạc đề hoặc đùa
vui, hoặc kể những chuyện hoàn toàn buồn - nói gọn lại, ông đã đối xử với
bạn đọc như với người đối thoại tự do, sinh động, nghiêm túc và thông minh
sắc sảo. Do đó ngay trong văn bản cuốn sách đôi khi không biết vì sao đó có
vẻ là lạ như thế không phải là văn viết: nó có nhiều kiểu chữ khác, nhiều
đoạn ngắt quãng, nhiều chỗ tách ra cứ như nó giữ lại trong bản thân dấu vết
của thứ khẩu ngữ lộn xộn. Chính sự phá vỡ đó của hình thức nghệ thuật cuốn
sách đã đám bảo cho dung lượng hết sức lớn của nó. Cuốn sách của Raxun
Gamzatốp không chỉ là lời tự thú của tâm hồn nhà thơ, nó còn là một cuốn
bách khoa thật sự về cuộc sống của dân tộc Avar. Có lần chính Gamzatop đã
viết về bản thân mình như thế này: «Cha tôi gọi tên tôi là Raxun - mà theo
tiếng Arập thì từ ấy có nghĩa là người đại diện. Hạnh phúc thay cho nhà thơ
nào được độc giả nói về ông ta như thế này: đó là người đại diện của chúng
tôi, người đại diện của nước chúng tôi, của nền thơ ca chúng tôi. Ở đây tôi
không thể nói rằng tôi xứng đáng với tên của mình. Song bao giờ tôi cũng
mong muốn được như thế. Tôi sống ở thủ đô nước Cộng hòa tự trị
Đaghextan, tại thành phố Makhátkala trên phố Mácxim Gorki. Nhà 15. Khi
các bạn tới vùng chúng tôi xin mời bạn ghé chơi nhà tôi. Lời chúc mừng yêu
thích của tôi là: chúc cho những người tốt sẽ gặp những điều tốt đẹp, mong
cho kẻ xấu sẽ gặp những điều xấu xa. Dù rằng điều đó thường xẩy ra ngược
lại».
Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh
bằng đại bác.
Ai qua đi rừng nếu chẳng đỗ nhà tôi. Thì mưa đá sấm rền sẽ đổ vào
anh, sấm rền mưa đá! Nhưng nếu khách không vui vì lều tôi không rộng mở,
thì mưa đá sấm rền sẽ đổ vào tôi, mưa đá sấm rền!
(Lời ghi trên cửa)
VỀ LỜI BẠT NÓI CHUNG
Khi tỉnh dậy, chớ chồm ra khỏi giường như bị châm đốt. Trước tiên hãy
ngẫm nghĩ về những gì đã đến với anh trong mơ.
Tôi nghĩ rằng chính Đức Allah trước khi kể lại với đám hầu cận của
mình một câu chuyện lý thú nào đấy, hay trước khi ban phát một lời giáo lý
nào đấy, thì thoạt tiên cũng châm thuốc hút, chậm rãi hít một hơi thật dài và
ngẫm nghĩ.
Máy bay trước khi cất cánh, rồ máy rất lâu, sau đó người ta kéo nó
ngang qua sân bay để ra đường băng, tiếp đây nó rồ máy ẩm ĩ hơn, từ từ
chạy và chỉ sau khi làm xong những việc đó, nó mới bay lên không trung.
Máy bay trực thăng không cần chạy một đoạn, nhưng nó cũng rồ máy
rất lâu, gầm rít, toàn thân rung lên một cách căng thẳng, trước khi rời khỏi
mặt đất.
Chỉ có chim ưng trên núi từ vách đá lao thẳng vào bầu trời xanh thẳm,
nhẹ nhàng lượn lên cao mãi, cao mãi cho đến khi biến thành cái chấm nhỏ
xíu dần mất hút trên nền trời,
Mọi cuốn sách hay cần phải mở đầu như vậy, không cần viện đến lời
rào trước đón sau dài dòng, không cần đến lời nói đầu buồn té, bởi vì nếu có
con bò lớn chạy ngang qua mà anh không kịp túm lấy sừng giữ nó lại thì anh
sẽ không thể nắm đuôi mà giữ nó được nữa.
Một ca sĩ cầm lấy cây đàn panđur. Tôi biết rằng ca sĩ có giọng khá hay,
vậy thì việc gì anh ta lại phải “bật bông” lâu thế, nhạt nhẽo thê trước khi cất
giọng hát? Cũng có thể nói như vậy về bản báo cáo đọc trước buổi liên hoan
văn nghệ, về bài nói chuyện trước vở kịch sắp mở màn, về những lời giáo
huấn tẻ ngắt mà bố vợ thết đãi chàng rể khi lẽ ra là nên mời ngay vào bàn
tiệc và rót rượu ra cốc.
Một lần, có mấy chàng hiệp sĩ khoe với nhau về thanh gươm của mình.
Họ nói rằng những thanh gươm ấy được làm bằng thứ thép tốt như thế nào,
những câu thơ tuyệt vời nào trích từ cuốn kinh Hồi giáo đã được khắc lên
gươm. Trong số những chàng hiệp sĩ đó có Khátgi-Murát, người tù trưởng
của Samin. Chàng nói:
- Sao các người lại tranh cãi với nhau dưới bóng mát cây ngô đồng?
Sáng sớm mai sẽ diễn ra một trận chiến đấu, và lúc ấy chính lưỡi gươm của
các người sẽ chứng tỏ cái nào là tốt nhất.
Nhưng tuy vậy, tôi nghĩ rằng, Đức Allah vẫn chậm rãi hút thuốc trước
khi bất đầu câu chuyện kể của mình.
Nhưng tuy vậy, ở vùng núi chúng tôi, vẫn có phong tục là kỵ sĩ không
nhảy lên yên ngựa bên cạnh ngưỡng cửa của mình. Anh ta cần phải dắt ngựa
ra khỏi bản. Cần làm như vậy chắc là để một lần nữa suy nghĩ xem anh đã để
lại đây những gì và những gì sẽ đến với anh trên đường đi. Dù công việc
thúc bách đến đâu, anh vẫn tư lự, chậm rãi cầm dây cương dắt ngựa qua bản
để rồi sau đó, khẽ chạm chân vào bàn đạp, anh nhảy phắt lên yên, cúi rạp
mình xuống và nhòa dần trong đám bụi đường.
Đấy, tôi cũng vậy, trước khi nhảy lên yên cuốn sách của tôi, tôi cũng
chậm chạp bước đi với vẻ đăm chiêu. Tôi cầm dây cương ngựa và đi bên
cạnh nó. Tôi đang nghĩ ngợi. Tôi không vội nói thành lời.
Lời nói lúng búng không phải chỉ trong miệng người có tật nói lắp, mà
còn cả trong miệng người đang cố tìm một lời nào thích hợp nhất, cần thiết
nhất, sâu sắc nhất. Tôi không hy vọng làm ai ngạc nhiên về sự sâu sắc, uyên
thâm, nhưng tôi cũng không phải người nói lắp. Tôi đi tìm lời nói cần thiết.
Abutalíp nói: Lời bạt một cuốn sách chính là cái cọng rơm mà người
đàn bà miền núi mê tín ngậm ở răng khi vá áo choàng ấm cho chồng. Bởi vì
nếu lúc ấy không ngậm một cọng rơm thì tương truyền rằng chiếc áo choàng
sẽ biến thành tấm áo liệm.
Abutalíp còn nói: Tôi giống như một người mò mẫm trong màn đêm
tìm cửa để vào, hoặc là giống người đã sờ thấy cửa, nhưng còn chưa biết là
có thể vào được không, có đáng vào hay không. Anh ta gõ cửa: cốc-cốc, cốccốc.
- E hèm, trong nhà nghe đây này, nếucác người định luộc thịt thì
đến giờ dậy rồi!
- E hèm, trong nhà nghe đây này, nếu các người định giã lúa mạch,
thì cứ ngủ cho khoẻ nhé, không việc gì phải vội cả.
- E hèm, trong nhà nghe đây này, nếu các người định uống
buza, thì đừng quên mời hàng xóm nghen!
Cốc-cốc, cốc-cốc.
- Này, thế thì tớ nên vào hay là các người không cần đến tớ?
Con người cần hai năm để học nói và cân sáu mươi năm để học cách im
lặng.
Tôi không phải hai tuổi và cũng không phải sáu mươi. Tôi đang ở giữa
độ đường. Tuy nhiên, có lẽ tôi gần điểm sau hơn, vì lời chưa nói tôi quý hơn
tất cả những lời nói rồi.
Cuốn sách chưa viết tôi quý hơn tất cả những cuốn đã viết. cuốn sách ấy
là quý nhất, thân thiết nhất, khó khăn nhất.
Cuốn sách mới là một cái động mà tôi chưa từng bước vào, nhưng cái
động đó đã mở ra trước mắt tôi, mời chào tôi bước vào khoảng sâu thẳm mờ
sương. Cuốn sách mới là con ngựa tôi chưa từng thắng yên cương, là con
dao găm tôi chưa từng rút ra khỏi bao.
Người vùng núi nói rằng: «Không cần thì đừng rút dao ra. Nếu đã rút
rồi thì hãy đâm! Đâm một nhát thôi mà giết được cả kẻ thù lẫn ngựa”.
Họ nói đúng lắm!
Nhưng tuy vậy, trước khi rút dao găm ra khỏi bao, anh cần phải biết
chắc xem nó có được mài nhọn không.
Cuốn sách của ta, đã bao năm nay ngươi sống trong lòng ta! Ngươi là
người đàn bà, người tình say đắm mà ta chỉ trông thấy từ xa, ta mơ tưởng tới,
mà không sao tới gần được.
Đôi lúc tưởng rằng nàng đã đứng đâu đây gần ngay bên cạnh - chỉ cần
với tay ra là tới, nhưng ta rụt rè, bối rối, ta đỏ mặt và lùi xa.
Nhưng bây giờ thì chấm dứt. Ta mạnh dạn bước lại gần và cầm tay
nàng. Từ một chàng trai rụt rè yêu đương, ta biến thành một người đàn ông
táo bạo, từng trải. Tôi thắng yên cương vào ngựa, quất nó ba roi - mặc cho
nó lao lên.
Nhưng tuy vậy, thoạt tiên tôi rắc thuốc lá trống trong vườn nhà miền
núi lên miếng giấy nhỏ vuông vức, rồi từ từ cuốn lại thành điếu thuốc. Nếu
tôi cuốn lại thật đều, thật mịn, thì khi hút sẽ thú vị biết bao!
Cuốn sách của ta, trước khi ta bắt đầu viết, ta muốn kể rằng ngươi đã
chín dần trong ta thế nào. Ta đã tìm được tên đặt cho ngươi thế nào. Vì lẽ gì
mà ta viết. Và đâu là những đích tới trong cuộc đời ta.
Tôi để khách xuống bếp, nơi đang pha những táng thịt cừu và ở đấy
không phải đang có mùi thịt nướng bốc lên, mà là mùi máu, mùi thịt, mùi da
cừu còn đang ấm nóng.
Tôi dẫn bạn bè vào căn phòng làm việc thân thiết, nơi những bản thảo
của tôi đang để ở đấy, và tôi cho phép họ lục lọi.
Mặc dầu bố tôi nói: Người lục lọi bản thảo của kẻ khác cũng giống như
người lục lọi túi áo kẻ khác.
Bố tôi còn nói: Lời bạt gợi cho ta hình ảnh một người lưng rộng bè bè,
trên đầu lại đội thêm cái mũ to sù sù ngồi chắn trước ta trong rạp hát. Nếu
anh ta ngồi yên, không ngả sang phải, sang trái thì còn đỡ. Người ngồi trước
như thế sẽ đem lại cho tôi, một khán giả, nhiều điều rất bất tiện và cuối cùng
sẽ làm tôi bực tức.
Rút trong sổ tay. Nhiều lần tôi có dịp phát biểu trong các buổi dạ hội
thơ ca ở Maxcơva hoặc ở các thành phố của nước Nga. Những người đến dự
không biết tiếng Avar. Thoạt tiên tôi tự kể đôi nét về mình bằng một thứ
tiếng Nga chưa được sõi lắm. Sau đó các bạn nhà thơ Nga đọc bản dịch
những bài thơ của tôi. Nhưng thường là trước khi bắt đầu, người ta yêu cầu
tôi đọc một bài thơ bằng tiếng mẹ đẻ: “Chúng tôi muốn được nghe nhạc điệu
của ngôn ngừ Avar, nhạc điệu của bài thơ». Tôi cất giọng đọc, tôi đọc chẳng
khác gì tiếng «bật bông” trên cây đàn panđur trước khi ca sĩ hát.
Lời bạt một cuốn sách cũng sẽ như thế chăng?
Rút trong sổ tay. Khi tôi theo học đại học ở Maxcơva bố tôi gửi tiền cho
tôi để mua bành tô mùa đông. Nhưng kết quả là tiền tôi tiêu hết mà bành tô
thì không mua. Đến kỳ nghỉ đông, tôi về Đaghextan với bộ đồ đã mặc khi rời
đó đi Maxcơva dạo hè.
Về đến nhà tôi bắt đầu phân bua với bố, bịa ra đủ thứ chuyện, chuyện
sau ngô nghê hơn chuyện trước. Khi thấy tôi đã hết phương biện bạch, bố tôi
mới ngắt lời:
- Thôi không nói nữa, Raxun. Bố muốn hỏi con hai câu.
- Bố hỏi đi.
- Mua bành tô chưa?
- Con chưa mua.
- Tiền tiêu hết chưa?
- Con tiêu hết rồi.
- Thế đấy, bây giờ thì rõ tất cả rồi. Việc gì con phải tuôn ra lắm lời vô
ích như thế, việc gì phải sáng tác ra cả một đoạn mào đầu dài dòng như vậy,
nếu thực chất của sự việc chỉ thể hiện trong đôi ba chữ?
Bố tôi đã dạy tôi như thế.
Tuy nhiên, đứa bé mới ra đời không thể biết nói ngay. Trước khi biết
nói, nó phải bập bẹ những tiếng gì không rõ. Và có khi nó khóc vì bị đau mà
đến mẹ đẻ cũng khó lòng biết được nó đau chỗ nào.
Nhưng lẽ nào tâm hồn thi sĩ lại không không giống tâm hồn trẻ thơ?
Bố tôi nói: Khi người ta chờ đàn cừu đi ăn trên núi về thì thoạt tiên họ
thấy sừng con dê bao giờ cũng đi đàng trước, tiếp đó thấy cả con dê, và sau
nữa mới thấy đàn cừu.
Khi người ta chờ đợi nghỉ lễ đám cưới hay đám tang bắt đầu thì thoạt
tiên họ nhìn thấy người cấp báo.
Khi người ta chờ người cấp báo vào làng thì thoạt tiên họ nhìn thấy đám
bụi mù, sau đó là ngựa và cuối cùng là người kỵ sĩ ấy.
Khi người ta chờ người thợ săn trở về thì thoạt tiên họ nhìn thấy con
chó của người thợ săn.
CUỐN SÁCH NÀY ĐÃ RA ĐỜI THẾ NÀO
VÀ NÓ ĐÃ ĐƯỢC VIẾT Ở ĐÂU
Cả những đứa trẻ cũng từng gặp những giấc mơ lớn.
Lời ghi trên nôi
Vũ khí chỉ dùng đến một lần, cần phải mang theo suốt đời.
Bài thơ mà anh sẽ ngâm nga suốt đời chỉ viết trong một lần.
Có một con chim mùa xuân bay lượn trên làng bản khi xuân sang. Nó
đang nghĩ xem nên nghỉ ngơi ở nơi đâu.
Nó chợt nhìn thấy một mái nhà bằng phẳng, rộng rãi, sạch sẽ. Trên mái
nhà là một cái sân nhỏ bằng đá. Từ khoảng không, con chim hạ thấp xuống
và đậu trên sân nhỏ nghỉ ngơi. Người đàn bà miền núi đã nhanh tay tóm
được chú chim và mang nó vào trong nhà. Nó nhận thấy mọi người trong
nhà đều đối xử tốt với nó, và nó ở lại luôn tại đấy. Nó tự kết tổ trên cái móng
sắt đóng vào thanh dầm ngang cũ kỹ bám đấy bồ hóng.
Có phải cuốn sách của tôi cũng thế chăng?
Đã bao lần, từ khoảng trời thơ ca của mình, tôi đã liếc nhìn xuống cánh
đồng văn xuôi, cố tìm một chỗ để ngồi lại, nghỉ ngơi...
Không, ở đây tốt hơn hết có lẽ nên so sánh với một chiếc máy bay đang
cần hạ cánh xuống sân bay. Tôi đã lượn một vòng để từ từ hạ cánh. Nhưng vì
thời tiết xấu, sân bay không nhận đón máy bay tôi. Đang bay một vòng rộng,
tôi chuyển sang bay thẳng và lại bay tiếp xa hơn, mặt đất mong đợi vẫn nằm
nguyên phía dưới... Đã nhiều lần diễn ra như vậy.
Và tôi nghĩ, thế có nghĩa là tôi không được số phận dành cho một điểm
tựa vững như bàn thạch. Thế có nghĩa là đôi chân tôi sẽ phải đi hoài không
nghỉ trên trái đất này, đôi mắt tôi sẽ phải ngắm nhìn không chán những miền
đất mới trên hành tinh này, và trái tim tôi phải luôn luôn sinh ra những bài ca
mới.
Giống như người thợ cày say sưa ngắm nhìn đám mây bay qua hay đàn
sếu dăng hàng mềm mại, rồi, dứt bỏ niềm say mê ấy, lại cầm lấy tay cày mà
đẳy đi với vẻ cần mẫn hơn nữa, tôi cũng lại ngồi vào bàn, viết tiếp bản
trường ca bỏ dở giữa chừng.
Phải rồi, thơ ca của tôi, dù tôi có so sánh nó với Khoảng trời nào đi nữa,
riêng đối với tôi nó vẫn là miếng đất cày đi xới lại, là công việc nhọc nhằn
của tôi. Tôi chưa từng viết văn xuôi.
Rồi có lần tôi nhận được một phong bì dày. Trong phong bì là bức thư
của tổng biên tập một tờ tạp chí mà tôi rất kính trọng. Bản thân người tổng
biên tập đó tôi cũng kính trọng. Và vị tổng biên tập ấy cũng mở đầu bức thư
bằng câu: «Raxun kính mến». Nói chung là hai bên đều tôn trọng nhau sâu
sắc.
Khi tôi mở bức thư ra đọc, nó đã làm tôi nhớ đến hình ảnh một tấm da
trâu mà người dân miền núi trái ra phơi khô trên mái nhà. Và khi tôi lật
những trang thư, chúng cũng kêu sột soạt không kém gì tấm da trâu đã khô,
người ta gấp tư lại để mang vào nhà. Chỉ có điều là không có mùi hăng hăng,
ngai ngái của tấm da thôi. Bức thư không có mùi vị gì.
Nhân tiện cũng xin dẫn ra một đoạn trong bức thư của vị tổng biên tập
đó: «Tòa soạn chúng tôi quyết định sẽ đăng trong các số tới của tạp chí
những bài vở về những thành tựu, những việc làm tốt đẹp và quang cảnh lao
động hàng ngày ở Đaghextan. Đây sẽ là câu chuyện về những người lao
động bình thường, về các chiến công và nguyện vọng của họ. Đây sẽ là câu
chuyện về ngày mai tươi sáng của miền núi quê anh, về những truyền thống
lâu đời ở đó, nhưng chủ yếu - là về ngày hôm nay rất đáng ghi nhớ của miền
quê ấy. Chúng tôi cho rằng một bài như thế tốt hơn hết là anh viết. Thế loại
tùy anh chọn: có thể là truyện ngắn , bài báo, bút ký hay một loạt những
phác thảo. Bài dài chừng 9-10 trang đánh máy. Thời hạn chừng 20-25 ngày.
Chúng tôi rất hy vọng và xin cảm ơn anh trước...”
Thời xưa, khi gả chồng cho con, người ta không cần hỏi đến ý kiến cô
gái mà chỉ làm một cách đơn giản - nói theo ngôn ngữ bây giờ - là đặt cô ta
trước việc đã rồi. Họ nói rằng mọi chuyện đã xong xuôi. Nhưng thậm chí
ngay từ thời ấy, ở miền núi chúng tôi không một ai dám tổ chức đám cưới
cho con trai mình khi cậu ta không đồng ý. Người ta nói rằng chỉ có một
người nào đó ở làng Ghiđátli đã từng hành động như vậy. Nhưng lẽ nào vị
tổng biên tập đáng kính của tôi lại là người làng Ghiđátli? Ông ấy đã quyết
định tất cả thay tôi... Nhưng liệu tôi có quyết định kể về đất nước Đaghextan
của tôi qua chín trang giấy nhỏ trong vòng 20 ngày không?
Tôi cố quên bức thư xúc phạm tới tôi ấy. Song ít lâu sau, điện thoại của
tôi bỗng réo lên gắt gao liên hồi, hệt như đó không phải là điện thoại, mà là
một con gà mái vừa đẻ trứng xong. Tất nhiên, đó là điện thoại gọi từ tòa soạn
tờ tạp chí nọ.
- Chào anh Raxun! Anh nhận được thư chúng tôi rồi chứ?
- Nhận được rồi.
- Thế bài đâu?
- Tôi... tôi... Nhiều việc quá... Chẳng có lúc nào rỗi.
- Sao lại thế, anh Raxun? Không thể nói thế được. Tạp chí chúng
tôi in tới gần một triệu bản. Nó được phát hành cả ở ngoài nước. Nếu quả
thật là anh bận, chúng tôi sẽ phái đến anh một người. Anh sẽ phác ra vài ý,
vài chi tiết, còn lại anh ta sẽ làm tất. Anh sẽ đọc lại, sửa qua rồi ký tên mình
vào... Điều chúng tôi cần nhất là có tên của anh.
- Ai không biết quý trọng khách thì hãy để cho xương của nó gãy
hết đi! Nếu ai gặp khách với vẻ mặt khó chịu hay với vầng trán nhăn nhó thì
hãy để cho trong nhà nó không có người già, - những người có thể khuyên
bảo lời hay việc tốt, hãy để cho trong nhà nó không có người trẻ - những
người sẽ nghe những lời khuyên bảo ấy! Chúng tôi đối xử với khách như vậy
đấy. Nhưng cầu trời, các anh đừng phải đến chỗ tôi người nào khéo tay mau
miệng. Tôi sẽ tự làm lấy được tất. Cái tay quai nơi cái bình của tôi, tôi cũng
tự gắn vào. Nếu tôi bị ngứa lưng thì không ai có thể gãi chỗ ngứa ấy tốt hơn
tôi.
Cuộc thương lượng giữa chúng tôi đến đây là chấm dứt. Thế là xong!
Tôi xin nghỉ phép một tháng và trở về làng quê Xađa.
Ôi Xađa!.. Bảy mươi nếp nhà ấm cúng. Bảy mươi làn khói xanh tỏa lên
bầu trời trong sáng của miền núi cao. Những ngôi nhà màu trắng trên mặt đất
đen. Phía trước làng, phía trước những ngôi nhà màu trắng là những cánh
đồng xanh bằng phẳng. Đằng sau làng, những vách đá dựng đứng. Những
tảng đá màu xám nhấp nhô dựng trên làng chúng tôi hệt như những đứa trẻ
tụ tập trên mái nhà bằng để nhìn xuống đám cưới đang diễn ra dưới sân. Đi
tới làng Xađa, tôi nhớ lại bức thư mà bố tôi đã gửi về nhà khi lần đầu tiên
nhìn thấy Maxcơva. Khó mà đoán được, chỗ nào bố nói đùa, chỗ nào bố nói
thật. Ông ngạc nhiên về Maxcơva:
«Hình như ở đây, ở Maxcơva, người ta không đốt lửa trong bếp lò để
nâu ăn, vì bố không nhìn thấy người phụ nữ nào đóng bánh phân khô * trên
tường nhà mình, không nhìn thấy từ các mái nhà khói đùn lên trông giống
như chiếc mũ lông to tướng của Abutalíp. (* ở một sốvùng phía Nam, phía Đông Liên-xô, nhân
dân thường dùng phân khô súc vật làm chất đốt. (ND.)
Bố cũng không nhìn thấy những bánh xe lăn để ép phẳng những mái
nhà kết bằng rạ. Bố không nhìn thấy người dân Maxcơva phơi cỏ khô trên
mái nhà. Nhưng nếu họ không phơi khô cỏ thì sẽ lấy gì để cho bò ăn? bố
không nhìn thấy một phụ nữ nào lê bước đi với bó củi khô, hay bó cỏ trên
vai. Không một lần nào bố nghe thấy tiếng kèn zurna hay tiếng trống. Có thể
nghĩ rằng thanh niên ở đây không lấy vợ và không tổ chức đám cưới. Dù bố
có đi khắp các ngả đường của thành phố lạ lùng này thì bố cũng không hề
thấy một con cừu nào. Thử hỏi người dân Maxcơva sẽ ngả thịt con gì nếu
khách bước qua ngưỡng cửa nhà mình? Khi có bạn bè thân đến chơi nếu
không mổ cừu thì lấy gì mà thết đãi? Không, bố chẳng thèm muốn một cuộc
sống như thế. Bố muốn sống trong làng Xađa của mình, nơi mà bố có thể ăn
món khinkal tùy thích, sau khi nói với mẹ cho thêm tỏi vào đó...»
Bố tôi còn tìm thấy nhiều “nhược điểm» khác ở Maxcơva khi so sánh
nó với làng quê hương. Tất nhiên là ông đã đùa khi ngạc nhiên rằng ở
Maxcơva người ta không đắp phân khô lên tường nhà, nhưng ông đã không
đùa khi ông dành tình yêu lớn hơn cho cái làng nhỏ của ông chứ không phải
cho thành phố vĩ đại kia. Ông yêu làng Xađa của mình và không bao giờ đổi
nó để lấy bất cứ một thú đô nào trên trái đất này.
Làng Xađa thân yêu của tôi! Đấy, tôi đã trở về đây từ thế giới rộng lớn
mà ở đó bố tôi đã nhận thấy bao nhiêu là «nhược điểm”. Tôi đã đi khắp thế
giới ấy, và đã nhìn thấy bao nhiêu kỳ thú. Đôi mắt tôi hoa lên trước bao
nhiêu cảnh đẹp phong phú, không biết dừng lại ngắm cảnh nào. Vừa nhìn
một ngôi đền đẹp đẽ, đôi mắt tôi đã vội lướt sang một ngôi đền khác cũng
đẹp như vậy; vừa thấy một gương mặt đẹp thì trước mắt đã hiện ra một
gương mặt khác đẹp hơn; tôi biết rằng dù hôm nay tôi nhìn thấy những cái
đẹp đến đâu, ngày mai tôi vẫn sẽ nhìn thấy những cái đẹp hơn... Như ta thấy
đấy, thế giới này không bao giờ có tận cùng.
Hãy tha lỗi cho tôi, hỡi những ngôi chùa Ấn-độ, những kim tự tháp Aicập, những ngôi đền cổ Italia; hãy tha lỗi cho tôi những xa lộ nước Mỹ,
những đại lộ Pari, những công viên nước Anh, những ngọn núi Thụy-sĩ. Hãy
tha lỗi cho tôi, nhừng người phụ nữ ba-lan, Nhật- bản, Rôm - tôi ngắm nhìn
các bạn, nhưng trái tim tôi bình thản đập, và nếu nhịp đập của nó có nhanh
hơn một chút, cũng không đến nỗi làm miệng tôi khô đắng và đầu óc quay
cuồng.
Vì đâu mà bây giờ, khi tôi lại nhìn thấy bảy mươi nếp nhà nép mình bên
vách đá này, trái tim tôi bỗng đập liên hồi, làm tôi đau đau nơi lồng ngực,
mắt tôi nhòa đi và đầu óc quay cuống như tôi đang bị ốm hay say rượu?
Chẳng lẽ cái làng Đaghextan nhỏ bé lại đẹp hơn Vơnizơ, Cairo hay
Canquytta?
Chẳng lẽ người phụ nữ Avar chậm chạp bước đi trên con đường mòn
nhỏ với bó củi trên vai đẹp hơn người đàn bà xứ Xcanđinavơ cao lớn, tóc
màu hạt dẻ?
Ôi, Xađa! Ta bước đi trên những cánh đồng của ngươi, và sương lạnh
ban mai đã làm đôi chân ta hết mỏi.
Tôi không lấy nước dưới lòng suối trong khe núi, chỉ lấy nước tận đầu
nguồn rửa mặt. Người ta nói rằng nếu muốn uống, hãy uống nước nguồn.
Người ta cũng nói rằng,- điều này tôi nghe bố tôi nói, - người đàn ông chỉ có
thể quỳ trong hai trường hợp: để uống nước nguồn và để hái hoa. Xađa,
chính ngươi là nguồn nước của ta. Tôi quỳ xuống, ghé môi và say sưa uống
nguồn nước Xađa.
Tôi nhìn thấy hòn đá-và một bóng hình trong suốt in lên đó. Đấy chính
là tôi ba mươi năm về trước. Tôi ngồi trên tảng đá và chăn cừu. Trên đầu tôi,
một cái mũ nhầu nát, tay tôi cầm một chiếc gậy dài, chân lầm đất.
Tôi nhìn thấy con đường mòn nhỏ và một bóng hình trong suốt in lên
đó. Đấy cũng là tôi ba mươi năm về trước. Tôi có việc sang làng bên cạnh.
Chắc là bố tôi đã sai tôi đi.
Trên mỗi bước đi, tôi gặp lại mình, gặp lại thời thơ ấu của tôi, gặp lại
những mùa xuân, những cơn mưa, những bông hoa và những chiếc lá rụng
mùa thu của tôi.
Tôi cởi quần áo và ngâm mình dưới dòng thác trắng xóa. Dòng nước
nhảy nhót từ vách đá này sang vách đá khác, tung bọt trắng rồi tụ lại thành
dòng, và cuối cùng thì đập vào vai, vào tay, vào đầu tôi.
Vòi tắm hoa sen ở khách sạn Pari “Hoàng cung” so với những thác
nước mát lạnh này của tôi chỉ là một đồ chơi thảm hại bằng chất dẻo.
Giữa những tảng đá ấm áp, dòng nước cháy từ nhánh sông trên núi, ấm
dần lên. Bốn tắm màu xanh nhạt ở khách sạn Luân-đôn “Mêtơrôpôn” - chỉ là
một cái đĩa nhỏ so với những bồn tắm giữa khe núi của tôi.
Tôi thích đi bộ giữa lòng những thành phố lớn. Tuy vậy chỉ sau dăm sáu
lần đi chơi lâu lâu, tôi đã bắt đầu cảm thấy thành phố trở nên quen thuộc và ý
muốn đi chơi mãi trong thành phố dần tiêu tan.
Nhưng tôi đã hàng nghìn lần đi trên các ngõ ngách làng tôi, thế mà tôi
không hề thấy chán, tôi vẫn còn muốn đi nữa, đi mãi không thôi.
Lần trở về này, tôi đến thăm từng ngôi nhà. Trong những ngôi nhà, bếp
lò còn rực than hồng hay chỉ còn tro tàn nguội lạnh, tôi đã cúi đầu chào, mái
đầu cũng đã lốm đốm trắng màu tro.
Tôi đứng bên cạnh những chiếc nôi, trong đó các chàng trai, cô gái
miền núi tương lai đang quẫy đạp, hay trong đó chỉ còn hơi ấm đứa bé đã
mang đi, hay trong đó chiếc chăn, gối nhỏ đã lạnh ngắt.
Bên mỗi chiếc nôi, tôi đều có cảm giác dường như tôi đang nằm trong
đó, dường như tất cả tương lai tôi còn ở phía trước: cả những con đường
mòn trên núi và những con đường rộng rãi ở nước Nga, cả những xa lộ,
những sân bay ở các nước xa xôi.
Tôi bế những đứa trẻ, khe khẽ hát bài hát ru, và bọn trẻ yên lành thiếp
dần trong tiếng hát vụng về của tôi.
Tôi đã ra thăm nghĩa địa làng Xađa, nơi những nấm mộ cũ cỏ dại mọc
đầy nằm bên những nấm mộ mới còn thơm mùi đất.
Tôi ngồi im lặng trong những ngôi nhà đang có đám tang, tôi vui vẻ
nhảy múa trong các đám cưới. Tôi đã nghe nhiều lời, nhiều câu chuyện trước
đây chưa từng nghe. Nhiều điều tôi đã biết và đã quên, tôi lại nhớ, lại trở về
từ đáy sâu ký ức...
Tôi nhìn thấy cái mới, nghe lại, nhớ lại những điều xưa cũ, và ý nghĩ
của tôi giống như những sợi chỉ nhiều màu quần quanh mọt ống suốt lớn.
Tôi đã tự hình dung tấm thảm sặc sỡ có thể dệt lên từ những sợi ấy.
Mới hôm qua còn trèo cây bắt chim
Kéo bè bạn lên chơi từng móm đá
Tình yêu đến, mắt trong xanh, kỳ lạ
Và bỗng dưng tôi khôn lớn, trưởng thành.
Nhưng nếu hôm qua, tôi đã tự coi mình
Chín chắn, khôn ngoan, chưa già - đầu đã bạc...
Tình yêu đến. Chỉ mỉm cười đơn giản
Thì trước tình yêu, tôi lại hóa trẻ thơ.
Tôi còn một thiên trường ca về tình yêu chưa viết xong. Chàng và
Nàng. Chàng - chính là tôi. Nhưng nhân vật chính - là tình yêu của tôi. Cần
phải viết nốt! Nhưng tôi có cảm giác dường như vừa nhận được một bức
điện đầy lo âu, và tôi phải gác mọi việc lại để vội vã ra sân bay.
Hay có khi thế này, sớm tinh mơ, người đàn bà vùng núi nhóm lửa lên.
Chị ta sửa soạn hâm đồ ăn còn lại từ hôm qua, đủ để cả gia đỉnh ăn no.
Nhưng bất ngờ, một người khách hiện ra trên ngưỡng cửa. Cần phải nhắc cái
nồi đựng thức ăn hôm qua xuống, cần phải làm món ăn mới.
Hay có khi thế này, trong đám cưới, các thanh niên cố ngồi gần chàng
rể, người bạn, người cùng lứ...
Ngày hoàn thành: 1/11/2015
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
QUYỂN 1
Người dịch: Phan Hồng Giang (phần thơ do bằng Việt dịch)
Người biên tập: Bùi Văn Hòa
Họa sĩ: Enkônina N. M.
© Bản dịch tiếng Việt, Nhà xuất bản Cầu vồng, 1984 - In tại Liên Xô
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Nói về Raxun Gamzatop có nghĩa là nói về Đaghextan, xứ sở trên vùng
núi Kapkazơ, nơi có 36 dân tộc đang chung sống, trong đó có dân tộc Avar.
Raxun Gamzatop là người Avar. Thêm nữa: nói về Raxun Gamzatốp có
nghĩa là nói về thơ ca, nói tới những trang ghi thêm vào thơ ca của Raxun
Gamzatop, một trong những nhà thơ Đaghextan nổi tiếng nhất, tác giả của
hàng chục cuốn thơ, trong đó có «Thơ bát cú» Gamzatop rất xuất sắc, vì nó
là sự tái tạo thể thơ cổ vốn có sức quyến rũ tâm hồn và nhạc cảm. Nói về
Raxun Gamzatop cũng tức là nói tới Gamzát Xađax, người đã làm rất nhiều
cho việc giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân gian của dân tộc Avar. Có lẽ
chúng ta sẽ bắt đầu từ đó. Nếu như lướt qua cuốn Từ điển bách khoa Liên-xô
chúng ta sẽ đọc được những dòng: «Xađax Gamzát (1877- 1951) nhà thơ
Xô-viết người Avar, nhà thơ nhân dân của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết Đaghextan (1934). Ông là cha của Raxun Gamzatốp..” Vâng, rõ ràng
điều đó có nhiều ý nghĩa - ra đời trong gia đình một nhà thơ lớn, người đã đi
vào lịch sử phát triển tinh thần của dân tộc mình. Điều đó cũng buộc Raxun
phải nghĩ tới nhiều thứ. Và vấn đề không chỉ ở chỗ Raxun là con trai của
Gamzát, viết văn từ rất sớm, năm 14 tuổi đã được in. Cần phải tìm cho ra
con đường của mình, cũng như bản thân mình trong nghệ thuật; thế mà điều
này lại rất không đơn giản, khi bên cạnh anh là một tài năng lớn, khi tên tuổi
cha anh đầy ý nghĩa đối với dân tộc anh vừa soi sáng cho anh vừa động viên
anh. Raxun đã lớn lên trên chiếc cây gia tộc mình như là một nhánh vững
trãi, đáng tin, đẹp đẽ, một nhánh cây đã đâm hoa kết trái làm sống lại dòng
nhựa của rễ cây bền vững lâu đời. Hôm nay đây Raxun Gamzatôp - cũng
như cha ông - là nhà thơ nhân dân Đaghextan. Ông là thành viên của Chính
phủ, đại biểu Xô-viết tối cao Liên-xô, người được Giải thưởng Lênin. Và
thêm nữa, ông được mọi người yêu mến. Là người được độc giả và thính giả
yêu mến, Raxun Gamzatop thường phát biểu, tiếp xúc với một cử tọa rộng
lớn và đa dạng. Ông là người được dân tộc mình, được vùng núi Kapkazơ và
tất cả đất nước Xô-viết yêu mến. Do đó khi Raxun viết xong cuốn văn xuôi
này cũng đã gây nên được một sự quan tâm và hiếu kỳ to lớn. Qua những
nhận xét đầu tiên người ta thấy rõ rằng cuốn sách đã thành công...
Chúng ta cần kể về điều đó, bởi vì độc giả tương lai nhất định cần biết
Raxun Gamzatop, con người yêu đời vĩ đại đó, người biết mừng vui vì cuộc
sống, biết thưởng thức cuộc sống và chính bản thân mang cho cuộc sống ánh
sáng và niềm vui, con người ấy là ai vậy. Song kể về cuốn sách «Đaghextan
của tôi» khó khăn hơn là kể tóm tắt về tác giả của nó. Bói vì đây không phải
tiểu thuyết, cũng không phải truyện vừa, đây không phải ký sự cũng không
phải tư liệu. Đây là tác phẩm văn xuôi vượt ra ngoài định nghĩa và biến thể
của loại hình văn học. Nó rất tự do và theo nghĩa ấy có thể ví nó như con
chim bay và từ trên cao thấy rõ như trong lòng bàn tay, những núi non, khe
vực thân thuộc, những làng mạc và phố phường, những nhà cửa và chợ búa,
những con chim ưng và những con dê, niềm vui và nỗi lo lắng, quá khứ và
có lẽ, cả tương lai. Nhìn chung nó là cuốn sách tự truyện, chỉ có điều đó là
tiểu sử nhiều cốt truyện, nhiều giọng nói: tiểu sử của nhà thơ, tiểu sử làng
bản thân thuộc và tiểu sự dân tộc... cuốn tiểu sử tự thuật nhiều thành phần
này lại giàu chất thơ và rất chân thành. Nó đậm sắc trữ tình, nó dược sưởi ấm
bởi sự hài hước nhẹ nhàng, nó được chiếu sáng bởi sự láu lỉnh - cái láu lỉnh
tinh nghịch dí dỏm - chẳng khác nào trong chiếc tráp cổ kính không chỉ có
một đáy mà trong mỗi đáy, lại còn chứa những điều bí mật của nó. Raxun
Gamzatop biết sử dụng khéo léo ngôn ngữ huyền diệu của dân gian giàu
nhạc điệu và đầy màu sắc, đồng thời biết hòa trộn bất ngờ các sắc điệu văn
phong rồi nói lên bằng ngôn ngữ tươi mới và phóng khoáng của người
đương thời.
Cốt lõi của cuốn sách vẫn là phương pháp văn học hết sức giản dị.
Dường như Raxun Gamzatop xin ý kiến độc giả và viết lời tựa cho cuốn sách
tương lai cửa mình. Ông suy nghĩ kỹ càng về cuốn sách ấy, thấy khoái cảm
vì nó, ông như quên đi những âm điệu khác nhau và những kiến giải cùng
chiều, ông nhớ lại, ông suy ngẫm, ông trò chuyện với độc giả, với những
người quen, với những người thân thuộc và người cùng làng. Ông cho chúng
ta biết một lượng thông tin thú vị nhất về Kapkazơ, về Thơ ca, về Cuộc sống,
về Con người, về Lịch sử. Tác phẩm được thêm vào nhiều truyện vừa mà
mỗi truyện ấy cũng có thể thành một tác phẩm riêng. Đây đó trong tác phẩm
ông tung ra nhiều câu tục ngữ, ngạn ngữ, ông kể những chuyện vui và cả
những chuyện buồn đã xẩy ra với chính tác giả, với bạn bè ông hoặc nó còn
được giữ lại từ lâu trong ký ức của nhân dân. Tác giả không sợ phải ngắt
mạch truyện của mình bằng một cốt truyện khác, ông như đi lạc đề hoặc đùa
vui, hoặc kể những chuyện hoàn toàn buồn - nói gọn lại, ông đã đối xử với
bạn đọc như với người đối thoại tự do, sinh động, nghiêm túc và thông minh
sắc sảo. Do đó ngay trong văn bản cuốn sách đôi khi không biết vì sao đó có
vẻ là lạ như thế không phải là văn viết: nó có nhiều kiểu chữ khác, nhiều
đoạn ngắt quãng, nhiều chỗ tách ra cứ như nó giữ lại trong bản thân dấu vết
của thứ khẩu ngữ lộn xộn. Chính sự phá vỡ đó của hình thức nghệ thuật cuốn
sách đã đám bảo cho dung lượng hết sức lớn của nó. Cuốn sách của Raxun
Gamzatốp không chỉ là lời tự thú của tâm hồn nhà thơ, nó còn là một cuốn
bách khoa thật sự về cuộc sống của dân tộc Avar. Có lần chính Gamzatop đã
viết về bản thân mình như thế này: «Cha tôi gọi tên tôi là Raxun - mà theo
tiếng Arập thì từ ấy có nghĩa là người đại diện. Hạnh phúc thay cho nhà thơ
nào được độc giả nói về ông ta như thế này: đó là người đại diện của chúng
tôi, người đại diện của nước chúng tôi, của nền thơ ca chúng tôi. Ở đây tôi
không thể nói rằng tôi xứng đáng với tên của mình. Song bao giờ tôi cũng
mong muốn được như thế. Tôi sống ở thủ đô nước Cộng hòa tự trị
Đaghextan, tại thành phố Makhátkala trên phố Mácxim Gorki. Nhà 15. Khi
các bạn tới vùng chúng tôi xin mời bạn ghé chơi nhà tôi. Lời chúc mừng yêu
thích của tôi là: chúc cho những người tốt sẽ gặp những điều tốt đẹp, mong
cho kẻ xấu sẽ gặp những điều xấu xa. Dù rằng điều đó thường xẩy ra ngược
lại».
Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh
bằng đại bác.
Ai qua đi rừng nếu chẳng đỗ nhà tôi. Thì mưa đá sấm rền sẽ đổ vào
anh, sấm rền mưa đá! Nhưng nếu khách không vui vì lều tôi không rộng mở,
thì mưa đá sấm rền sẽ đổ vào tôi, mưa đá sấm rền!
(Lời ghi trên cửa)
VỀ LỜI BẠT NÓI CHUNG
Khi tỉnh dậy, chớ chồm ra khỏi giường như bị châm đốt. Trước tiên hãy
ngẫm nghĩ về những gì đã đến với anh trong mơ.
Tôi nghĩ rằng chính Đức Allah trước khi kể lại với đám hầu cận của
mình một câu chuyện lý thú nào đấy, hay trước khi ban phát một lời giáo lý
nào đấy, thì thoạt tiên cũng châm thuốc hút, chậm rãi hít một hơi thật dài và
ngẫm nghĩ.
Máy bay trước khi cất cánh, rồ máy rất lâu, sau đó người ta kéo nó
ngang qua sân bay để ra đường băng, tiếp đây nó rồ máy ẩm ĩ hơn, từ từ
chạy và chỉ sau khi làm xong những việc đó, nó mới bay lên không trung.
Máy bay trực thăng không cần chạy một đoạn, nhưng nó cũng rồ máy
rất lâu, gầm rít, toàn thân rung lên một cách căng thẳng, trước khi rời khỏi
mặt đất.
Chỉ có chim ưng trên núi từ vách đá lao thẳng vào bầu trời xanh thẳm,
nhẹ nhàng lượn lên cao mãi, cao mãi cho đến khi biến thành cái chấm nhỏ
xíu dần mất hút trên nền trời,
Mọi cuốn sách hay cần phải mở đầu như vậy, không cần viện đến lời
rào trước đón sau dài dòng, không cần đến lời nói đầu buồn té, bởi vì nếu có
con bò lớn chạy ngang qua mà anh không kịp túm lấy sừng giữ nó lại thì anh
sẽ không thể nắm đuôi mà giữ nó được nữa.
Một ca sĩ cầm lấy cây đàn panđur. Tôi biết rằng ca sĩ có giọng khá hay,
vậy thì việc gì anh ta lại phải “bật bông” lâu thế, nhạt nhẽo thê trước khi cất
giọng hát? Cũng có thể nói như vậy về bản báo cáo đọc trước buổi liên hoan
văn nghệ, về bài nói chuyện trước vở kịch sắp mở màn, về những lời giáo
huấn tẻ ngắt mà bố vợ thết đãi chàng rể khi lẽ ra là nên mời ngay vào bàn
tiệc và rót rượu ra cốc.
Một lần, có mấy chàng hiệp sĩ khoe với nhau về thanh gươm của mình.
Họ nói rằng những thanh gươm ấy được làm bằng thứ thép tốt như thế nào,
những câu thơ tuyệt vời nào trích từ cuốn kinh Hồi giáo đã được khắc lên
gươm. Trong số những chàng hiệp sĩ đó có Khátgi-Murát, người tù trưởng
của Samin. Chàng nói:
- Sao các người lại tranh cãi với nhau dưới bóng mát cây ngô đồng?
Sáng sớm mai sẽ diễn ra một trận chiến đấu, và lúc ấy chính lưỡi gươm của
các người sẽ chứng tỏ cái nào là tốt nhất.
Nhưng tuy vậy, tôi nghĩ rằng, Đức Allah vẫn chậm rãi hút thuốc trước
khi bất đầu câu chuyện kể của mình.
Nhưng tuy vậy, ở vùng núi chúng tôi, vẫn có phong tục là kỵ sĩ không
nhảy lên yên ngựa bên cạnh ngưỡng cửa của mình. Anh ta cần phải dắt ngựa
ra khỏi bản. Cần làm như vậy chắc là để một lần nữa suy nghĩ xem anh đã để
lại đây những gì và những gì sẽ đến với anh trên đường đi. Dù công việc
thúc bách đến đâu, anh vẫn tư lự, chậm rãi cầm dây cương dắt ngựa qua bản
để rồi sau đó, khẽ chạm chân vào bàn đạp, anh nhảy phắt lên yên, cúi rạp
mình xuống và nhòa dần trong đám bụi đường.
Đấy, tôi cũng vậy, trước khi nhảy lên yên cuốn sách của tôi, tôi cũng
chậm chạp bước đi với vẻ đăm chiêu. Tôi cầm dây cương ngựa và đi bên
cạnh nó. Tôi đang nghĩ ngợi. Tôi không vội nói thành lời.
Lời nói lúng búng không phải chỉ trong miệng người có tật nói lắp, mà
còn cả trong miệng người đang cố tìm một lời nào thích hợp nhất, cần thiết
nhất, sâu sắc nhất. Tôi không hy vọng làm ai ngạc nhiên về sự sâu sắc, uyên
thâm, nhưng tôi cũng không phải người nói lắp. Tôi đi tìm lời nói cần thiết.
Abutalíp nói: Lời bạt một cuốn sách chính là cái cọng rơm mà người
đàn bà miền núi mê tín ngậm ở răng khi vá áo choàng ấm cho chồng. Bởi vì
nếu lúc ấy không ngậm một cọng rơm thì tương truyền rằng chiếc áo choàng
sẽ biến thành tấm áo liệm.
Abutalíp còn nói: Tôi giống như một người mò mẫm trong màn đêm
tìm cửa để vào, hoặc là giống người đã sờ thấy cửa, nhưng còn chưa biết là
có thể vào được không, có đáng vào hay không. Anh ta gõ cửa: cốc-cốc, cốccốc.
- E hèm, trong nhà nghe đây này, nếucác người định luộc thịt thì
đến giờ dậy rồi!
- E hèm, trong nhà nghe đây này, nếu các người định giã lúa mạch,
thì cứ ngủ cho khoẻ nhé, không việc gì phải vội cả.
- E hèm, trong nhà nghe đây này, nếu các người định uống
buza, thì đừng quên mời hàng xóm nghen!
Cốc-cốc, cốc-cốc.
- Này, thế thì tớ nên vào hay là các người không cần đến tớ?
Con người cần hai năm để học nói và cân sáu mươi năm để học cách im
lặng.
Tôi không phải hai tuổi và cũng không phải sáu mươi. Tôi đang ở giữa
độ đường. Tuy nhiên, có lẽ tôi gần điểm sau hơn, vì lời chưa nói tôi quý hơn
tất cả những lời nói rồi.
Cuốn sách chưa viết tôi quý hơn tất cả những cuốn đã viết. cuốn sách ấy
là quý nhất, thân thiết nhất, khó khăn nhất.
Cuốn sách mới là một cái động mà tôi chưa từng bước vào, nhưng cái
động đó đã mở ra trước mắt tôi, mời chào tôi bước vào khoảng sâu thẳm mờ
sương. Cuốn sách mới là con ngựa tôi chưa từng thắng yên cương, là con
dao găm tôi chưa từng rút ra khỏi bao.
Người vùng núi nói rằng: «Không cần thì đừng rút dao ra. Nếu đã rút
rồi thì hãy đâm! Đâm một nhát thôi mà giết được cả kẻ thù lẫn ngựa”.
Họ nói đúng lắm!
Nhưng tuy vậy, trước khi rút dao găm ra khỏi bao, anh cần phải biết
chắc xem nó có được mài nhọn không.
Cuốn sách của ta, đã bao năm nay ngươi sống trong lòng ta! Ngươi là
người đàn bà, người tình say đắm mà ta chỉ trông thấy từ xa, ta mơ tưởng tới,
mà không sao tới gần được.
Đôi lúc tưởng rằng nàng đã đứng đâu đây gần ngay bên cạnh - chỉ cần
với tay ra là tới, nhưng ta rụt rè, bối rối, ta đỏ mặt và lùi xa.
Nhưng bây giờ thì chấm dứt. Ta mạnh dạn bước lại gần và cầm tay
nàng. Từ một chàng trai rụt rè yêu đương, ta biến thành một người đàn ông
táo bạo, từng trải. Tôi thắng yên cương vào ngựa, quất nó ba roi - mặc cho
nó lao lên.
Nhưng tuy vậy, thoạt tiên tôi rắc thuốc lá trống trong vườn nhà miền
núi lên miếng giấy nhỏ vuông vức, rồi từ từ cuốn lại thành điếu thuốc. Nếu
tôi cuốn lại thật đều, thật mịn, thì khi hút sẽ thú vị biết bao!
Cuốn sách của ta, trước khi ta bắt đầu viết, ta muốn kể rằng ngươi đã
chín dần trong ta thế nào. Ta đã tìm được tên đặt cho ngươi thế nào. Vì lẽ gì
mà ta viết. Và đâu là những đích tới trong cuộc đời ta.
Tôi để khách xuống bếp, nơi đang pha những táng thịt cừu và ở đấy
không phải đang có mùi thịt nướng bốc lên, mà là mùi máu, mùi thịt, mùi da
cừu còn đang ấm nóng.
Tôi dẫn bạn bè vào căn phòng làm việc thân thiết, nơi những bản thảo
của tôi đang để ở đấy, và tôi cho phép họ lục lọi.
Mặc dầu bố tôi nói: Người lục lọi bản thảo của kẻ khác cũng giống như
người lục lọi túi áo kẻ khác.
Bố tôi còn nói: Lời bạt gợi cho ta hình ảnh một người lưng rộng bè bè,
trên đầu lại đội thêm cái mũ to sù sù ngồi chắn trước ta trong rạp hát. Nếu
anh ta ngồi yên, không ngả sang phải, sang trái thì còn đỡ. Người ngồi trước
như thế sẽ đem lại cho tôi, một khán giả, nhiều điều rất bất tiện và cuối cùng
sẽ làm tôi bực tức.
Rút trong sổ tay. Nhiều lần tôi có dịp phát biểu trong các buổi dạ hội
thơ ca ở Maxcơva hoặc ở các thành phố của nước Nga. Những người đến dự
không biết tiếng Avar. Thoạt tiên tôi tự kể đôi nét về mình bằng một thứ
tiếng Nga chưa được sõi lắm. Sau đó các bạn nhà thơ Nga đọc bản dịch
những bài thơ của tôi. Nhưng thường là trước khi bắt đầu, người ta yêu cầu
tôi đọc một bài thơ bằng tiếng mẹ đẻ: “Chúng tôi muốn được nghe nhạc điệu
của ngôn ngừ Avar, nhạc điệu của bài thơ». Tôi cất giọng đọc, tôi đọc chẳng
khác gì tiếng «bật bông” trên cây đàn panđur trước khi ca sĩ hát.
Lời bạt một cuốn sách cũng sẽ như thế chăng?
Rút trong sổ tay. Khi tôi theo học đại học ở Maxcơva bố tôi gửi tiền cho
tôi để mua bành tô mùa đông. Nhưng kết quả là tiền tôi tiêu hết mà bành tô
thì không mua. Đến kỳ nghỉ đông, tôi về Đaghextan với bộ đồ đã mặc khi rời
đó đi Maxcơva dạo hè.
Về đến nhà tôi bắt đầu phân bua với bố, bịa ra đủ thứ chuyện, chuyện
sau ngô nghê hơn chuyện trước. Khi thấy tôi đã hết phương biện bạch, bố tôi
mới ngắt lời:
- Thôi không nói nữa, Raxun. Bố muốn hỏi con hai câu.
- Bố hỏi đi.
- Mua bành tô chưa?
- Con chưa mua.
- Tiền tiêu hết chưa?
- Con tiêu hết rồi.
- Thế đấy, bây giờ thì rõ tất cả rồi. Việc gì con phải tuôn ra lắm lời vô
ích như thế, việc gì phải sáng tác ra cả một đoạn mào đầu dài dòng như vậy,
nếu thực chất của sự việc chỉ thể hiện trong đôi ba chữ?
Bố tôi đã dạy tôi như thế.
Tuy nhiên, đứa bé mới ra đời không thể biết nói ngay. Trước khi biết
nói, nó phải bập bẹ những tiếng gì không rõ. Và có khi nó khóc vì bị đau mà
đến mẹ đẻ cũng khó lòng biết được nó đau chỗ nào.
Nhưng lẽ nào tâm hồn thi sĩ lại không không giống tâm hồn trẻ thơ?
Bố tôi nói: Khi người ta chờ đàn cừu đi ăn trên núi về thì thoạt tiên họ
thấy sừng con dê bao giờ cũng đi đàng trước, tiếp đó thấy cả con dê, và sau
nữa mới thấy đàn cừu.
Khi người ta chờ đợi nghỉ lễ đám cưới hay đám tang bắt đầu thì thoạt
tiên họ nhìn thấy người cấp báo.
Khi người ta chờ người cấp báo vào làng thì thoạt tiên họ nhìn thấy đám
bụi mù, sau đó là ngựa và cuối cùng là người kỵ sĩ ấy.
Khi người ta chờ người thợ săn trở về thì thoạt tiên họ nhìn thấy con
chó của người thợ săn.
CUỐN SÁCH NÀY ĐÃ RA ĐỜI THẾ NÀO
VÀ NÓ ĐÃ ĐƯỢC VIẾT Ở ĐÂU
Cả những đứa trẻ cũng từng gặp những giấc mơ lớn.
Lời ghi trên nôi
Vũ khí chỉ dùng đến một lần, cần phải mang theo suốt đời.
Bài thơ mà anh sẽ ngâm nga suốt đời chỉ viết trong một lần.
Có một con chim mùa xuân bay lượn trên làng bản khi xuân sang. Nó
đang nghĩ xem nên nghỉ ngơi ở nơi đâu.
Nó chợt nhìn thấy một mái nhà bằng phẳng, rộng rãi, sạch sẽ. Trên mái
nhà là một cái sân nhỏ bằng đá. Từ khoảng không, con chim hạ thấp xuống
và đậu trên sân nhỏ nghỉ ngơi. Người đàn bà miền núi đã nhanh tay tóm
được chú chim và mang nó vào trong nhà. Nó nhận thấy mọi người trong
nhà đều đối xử tốt với nó, và nó ở lại luôn tại đấy. Nó tự kết tổ trên cái móng
sắt đóng vào thanh dầm ngang cũ kỹ bám đấy bồ hóng.
Có phải cuốn sách của tôi cũng thế chăng?
Đã bao lần, từ khoảng trời thơ ca của mình, tôi đã liếc nhìn xuống cánh
đồng văn xuôi, cố tìm một chỗ để ngồi lại, nghỉ ngơi...
Không, ở đây tốt hơn hết có lẽ nên so sánh với một chiếc máy bay đang
cần hạ cánh xuống sân bay. Tôi đã lượn một vòng để từ từ hạ cánh. Nhưng vì
thời tiết xấu, sân bay không nhận đón máy bay tôi. Đang bay một vòng rộng,
tôi chuyển sang bay thẳng và lại bay tiếp xa hơn, mặt đất mong đợi vẫn nằm
nguyên phía dưới... Đã nhiều lần diễn ra như vậy.
Và tôi nghĩ, thế có nghĩa là tôi không được số phận dành cho một điểm
tựa vững như bàn thạch. Thế có nghĩa là đôi chân tôi sẽ phải đi hoài không
nghỉ trên trái đất này, đôi mắt tôi sẽ phải ngắm nhìn không chán những miền
đất mới trên hành tinh này, và trái tim tôi phải luôn luôn sinh ra những bài ca
mới.
Giống như người thợ cày say sưa ngắm nhìn đám mây bay qua hay đàn
sếu dăng hàng mềm mại, rồi, dứt bỏ niềm say mê ấy, lại cầm lấy tay cày mà
đẳy đi với vẻ cần mẫn hơn nữa, tôi cũng lại ngồi vào bàn, viết tiếp bản
trường ca bỏ dở giữa chừng.
Phải rồi, thơ ca của tôi, dù tôi có so sánh nó với Khoảng trời nào đi nữa,
riêng đối với tôi nó vẫn là miếng đất cày đi xới lại, là công việc nhọc nhằn
của tôi. Tôi chưa từng viết văn xuôi.
Rồi có lần tôi nhận được một phong bì dày. Trong phong bì là bức thư
của tổng biên tập một tờ tạp chí mà tôi rất kính trọng. Bản thân người tổng
biên tập đó tôi cũng kính trọng. Và vị tổng biên tập ấy cũng mở đầu bức thư
bằng câu: «Raxun kính mến». Nói chung là hai bên đều tôn trọng nhau sâu
sắc.
Khi tôi mở bức thư ra đọc, nó đã làm tôi nhớ đến hình ảnh một tấm da
trâu mà người dân miền núi trái ra phơi khô trên mái nhà. Và khi tôi lật
những trang thư, chúng cũng kêu sột soạt không kém gì tấm da trâu đã khô,
người ta gấp tư lại để mang vào nhà. Chỉ có điều là không có mùi hăng hăng,
ngai ngái của tấm da thôi. Bức thư không có mùi vị gì.
Nhân tiện cũng xin dẫn ra một đoạn trong bức thư của vị tổng biên tập
đó: «Tòa soạn chúng tôi quyết định sẽ đăng trong các số tới của tạp chí
những bài vở về những thành tựu, những việc làm tốt đẹp và quang cảnh lao
động hàng ngày ở Đaghextan. Đây sẽ là câu chuyện về những người lao
động bình thường, về các chiến công và nguyện vọng của họ. Đây sẽ là câu
chuyện về ngày mai tươi sáng của miền núi quê anh, về những truyền thống
lâu đời ở đó, nhưng chủ yếu - là về ngày hôm nay rất đáng ghi nhớ của miền
quê ấy. Chúng tôi cho rằng một bài như thế tốt hơn hết là anh viết. Thế loại
tùy anh chọn: có thể là truyện ngắn , bài báo, bút ký hay một loạt những
phác thảo. Bài dài chừng 9-10 trang đánh máy. Thời hạn chừng 20-25 ngày.
Chúng tôi rất hy vọng và xin cảm ơn anh trước...”
Thời xưa, khi gả chồng cho con, người ta không cần hỏi đến ý kiến cô
gái mà chỉ làm một cách đơn giản - nói theo ngôn ngữ bây giờ - là đặt cô ta
trước việc đã rồi. Họ nói rằng mọi chuyện đã xong xuôi. Nhưng thậm chí
ngay từ thời ấy, ở miền núi chúng tôi không một ai dám tổ chức đám cưới
cho con trai mình khi cậu ta không đồng ý. Người ta nói rằng chỉ có một
người nào đó ở làng Ghiđátli đã từng hành động như vậy. Nhưng lẽ nào vị
tổng biên tập đáng kính của tôi lại là người làng Ghiđátli? Ông ấy đã quyết
định tất cả thay tôi... Nhưng liệu tôi có quyết định kể về đất nước Đaghextan
của tôi qua chín trang giấy nhỏ trong vòng 20 ngày không?
Tôi cố quên bức thư xúc phạm tới tôi ấy. Song ít lâu sau, điện thoại của
tôi bỗng réo lên gắt gao liên hồi, hệt như đó không phải là điện thoại, mà là
một con gà mái vừa đẻ trứng xong. Tất nhiên, đó là điện thoại gọi từ tòa soạn
tờ tạp chí nọ.
- Chào anh Raxun! Anh nhận được thư chúng tôi rồi chứ?
- Nhận được rồi.
- Thế bài đâu?
- Tôi... tôi... Nhiều việc quá... Chẳng có lúc nào rỗi.
- Sao lại thế, anh Raxun? Không thể nói thế được. Tạp chí chúng
tôi in tới gần một triệu bản. Nó được phát hành cả ở ngoài nước. Nếu quả
thật là anh bận, chúng tôi sẽ phái đến anh một người. Anh sẽ phác ra vài ý,
vài chi tiết, còn lại anh ta sẽ làm tất. Anh sẽ đọc lại, sửa qua rồi ký tên mình
vào... Điều chúng tôi cần nhất là có tên của anh.
- Ai không biết quý trọng khách thì hãy để cho xương của nó gãy
hết đi! Nếu ai gặp khách với vẻ mặt khó chịu hay với vầng trán nhăn nhó thì
hãy để cho trong nhà nó không có người già, - những người có thể khuyên
bảo lời hay việc tốt, hãy để cho trong nhà nó không có người trẻ - những
người sẽ nghe những lời khuyên bảo ấy! Chúng tôi đối xử với khách như vậy
đấy. Nhưng cầu trời, các anh đừng phải đến chỗ tôi người nào khéo tay mau
miệng. Tôi sẽ tự làm lấy được tất. Cái tay quai nơi cái bình của tôi, tôi cũng
tự gắn vào. Nếu tôi bị ngứa lưng thì không ai có thể gãi chỗ ngứa ấy tốt hơn
tôi.
Cuộc thương lượng giữa chúng tôi đến đây là chấm dứt. Thế là xong!
Tôi xin nghỉ phép một tháng và trở về làng quê Xađa.
Ôi Xađa!.. Bảy mươi nếp nhà ấm cúng. Bảy mươi làn khói xanh tỏa lên
bầu trời trong sáng của miền núi cao. Những ngôi nhà màu trắng trên mặt đất
đen. Phía trước làng, phía trước những ngôi nhà màu trắng là những cánh
đồng xanh bằng phẳng. Đằng sau làng, những vách đá dựng đứng. Những
tảng đá màu xám nhấp nhô dựng trên làng chúng tôi hệt như những đứa trẻ
tụ tập trên mái nhà bằng để nhìn xuống đám cưới đang diễn ra dưới sân. Đi
tới làng Xađa, tôi nhớ lại bức thư mà bố tôi đã gửi về nhà khi lần đầu tiên
nhìn thấy Maxcơva. Khó mà đoán được, chỗ nào bố nói đùa, chỗ nào bố nói
thật. Ông ngạc nhiên về Maxcơva:
«Hình như ở đây, ở Maxcơva, người ta không đốt lửa trong bếp lò để
nâu ăn, vì bố không nhìn thấy người phụ nữ nào đóng bánh phân khô * trên
tường nhà mình, không nhìn thấy từ các mái nhà khói đùn lên trông giống
như chiếc mũ lông to tướng của Abutalíp. (* ở một sốvùng phía Nam, phía Đông Liên-xô, nhân
dân thường dùng phân khô súc vật làm chất đốt. (ND.)
Bố cũng không nhìn thấy những bánh xe lăn để ép phẳng những mái
nhà kết bằng rạ. Bố không nhìn thấy người dân Maxcơva phơi cỏ khô trên
mái nhà. Nhưng nếu họ không phơi khô cỏ thì sẽ lấy gì để cho bò ăn? bố
không nhìn thấy một phụ nữ nào lê bước đi với bó củi khô, hay bó cỏ trên
vai. Không một lần nào bố nghe thấy tiếng kèn zurna hay tiếng trống. Có thể
nghĩ rằng thanh niên ở đây không lấy vợ và không tổ chức đám cưới. Dù bố
có đi khắp các ngả đường của thành phố lạ lùng này thì bố cũng không hề
thấy một con cừu nào. Thử hỏi người dân Maxcơva sẽ ngả thịt con gì nếu
khách bước qua ngưỡng cửa nhà mình? Khi có bạn bè thân đến chơi nếu
không mổ cừu thì lấy gì mà thết đãi? Không, bố chẳng thèm muốn một cuộc
sống như thế. Bố muốn sống trong làng Xađa của mình, nơi mà bố có thể ăn
món khinkal tùy thích, sau khi nói với mẹ cho thêm tỏi vào đó...»
Bố tôi còn tìm thấy nhiều “nhược điểm» khác ở Maxcơva khi so sánh
nó với làng quê hương. Tất nhiên là ông đã đùa khi ngạc nhiên rằng ở
Maxcơva người ta không đắp phân khô lên tường nhà, nhưng ông đã không
đùa khi ông dành tình yêu lớn hơn cho cái làng nhỏ của ông chứ không phải
cho thành phố vĩ đại kia. Ông yêu làng Xađa của mình và không bao giờ đổi
nó để lấy bất cứ một thú đô nào trên trái đất này.
Làng Xađa thân yêu của tôi! Đấy, tôi đã trở về đây từ thế giới rộng lớn
mà ở đó bố tôi đã nhận thấy bao nhiêu là «nhược điểm”. Tôi đã đi khắp thế
giới ấy, và đã nhìn thấy bao nhiêu kỳ thú. Đôi mắt tôi hoa lên trước bao
nhiêu cảnh đẹp phong phú, không biết dừng lại ngắm cảnh nào. Vừa nhìn
một ngôi đền đẹp đẽ, đôi mắt tôi đã vội lướt sang một ngôi đền khác cũng
đẹp như vậy; vừa thấy một gương mặt đẹp thì trước mắt đã hiện ra một
gương mặt khác đẹp hơn; tôi biết rằng dù hôm nay tôi nhìn thấy những cái
đẹp đến đâu, ngày mai tôi vẫn sẽ nhìn thấy những cái đẹp hơn... Như ta thấy
đấy, thế giới này không bao giờ có tận cùng.
Hãy tha lỗi cho tôi, hỡi những ngôi chùa Ấn-độ, những kim tự tháp Aicập, những ngôi đền cổ Italia; hãy tha lỗi cho tôi những xa lộ nước Mỹ,
những đại lộ Pari, những công viên nước Anh, những ngọn núi Thụy-sĩ. Hãy
tha lỗi cho tôi, nhừng người phụ nữ ba-lan, Nhật- bản, Rôm - tôi ngắm nhìn
các bạn, nhưng trái tim tôi bình thản đập, và nếu nhịp đập của nó có nhanh
hơn một chút, cũng không đến nỗi làm miệng tôi khô đắng và đầu óc quay
cuồng.
Vì đâu mà bây giờ, khi tôi lại nhìn thấy bảy mươi nếp nhà nép mình bên
vách đá này, trái tim tôi bỗng đập liên hồi, làm tôi đau đau nơi lồng ngực,
mắt tôi nhòa đi và đầu óc quay cuống như tôi đang bị ốm hay say rượu?
Chẳng lẽ cái làng Đaghextan nhỏ bé lại đẹp hơn Vơnizơ, Cairo hay
Canquytta?
Chẳng lẽ người phụ nữ Avar chậm chạp bước đi trên con đường mòn
nhỏ với bó củi trên vai đẹp hơn người đàn bà xứ Xcanđinavơ cao lớn, tóc
màu hạt dẻ?
Ôi, Xađa! Ta bước đi trên những cánh đồng của ngươi, và sương lạnh
ban mai đã làm đôi chân ta hết mỏi.
Tôi không lấy nước dưới lòng suối trong khe núi, chỉ lấy nước tận đầu
nguồn rửa mặt. Người ta nói rằng nếu muốn uống, hãy uống nước nguồn.
Người ta cũng nói rằng,- điều này tôi nghe bố tôi nói, - người đàn ông chỉ có
thể quỳ trong hai trường hợp: để uống nước nguồn và để hái hoa. Xađa,
chính ngươi là nguồn nước của ta. Tôi quỳ xuống, ghé môi và say sưa uống
nguồn nước Xađa.
Tôi nhìn thấy hòn đá-và một bóng hình trong suốt in lên đó. Đấy chính
là tôi ba mươi năm về trước. Tôi ngồi trên tảng đá và chăn cừu. Trên đầu tôi,
một cái mũ nhầu nát, tay tôi cầm một chiếc gậy dài, chân lầm đất.
Tôi nhìn thấy con đường mòn nhỏ và một bóng hình trong suốt in lên
đó. Đấy cũng là tôi ba mươi năm về trước. Tôi có việc sang làng bên cạnh.
Chắc là bố tôi đã sai tôi đi.
Trên mỗi bước đi, tôi gặp lại mình, gặp lại thời thơ ấu của tôi, gặp lại
những mùa xuân, những cơn mưa, những bông hoa và những chiếc lá rụng
mùa thu của tôi.
Tôi cởi quần áo và ngâm mình dưới dòng thác trắng xóa. Dòng nước
nhảy nhót từ vách đá này sang vách đá khác, tung bọt trắng rồi tụ lại thành
dòng, và cuối cùng thì đập vào vai, vào tay, vào đầu tôi.
Vòi tắm hoa sen ở khách sạn Pari “Hoàng cung” so với những thác
nước mát lạnh này của tôi chỉ là một đồ chơi thảm hại bằng chất dẻo.
Giữa những tảng đá ấm áp, dòng nước cháy từ nhánh sông trên núi, ấm
dần lên. Bốn tắm màu xanh nhạt ở khách sạn Luân-đôn “Mêtơrôpôn” - chỉ là
một cái đĩa nhỏ so với những bồn tắm giữa khe núi của tôi.
Tôi thích đi bộ giữa lòng những thành phố lớn. Tuy vậy chỉ sau dăm sáu
lần đi chơi lâu lâu, tôi đã bắt đầu cảm thấy thành phố trở nên quen thuộc và ý
muốn đi chơi mãi trong thành phố dần tiêu tan.
Nhưng tôi đã hàng nghìn lần đi trên các ngõ ngách làng tôi, thế mà tôi
không hề thấy chán, tôi vẫn còn muốn đi nữa, đi mãi không thôi.
Lần trở về này, tôi đến thăm từng ngôi nhà. Trong những ngôi nhà, bếp
lò còn rực than hồng hay chỉ còn tro tàn nguội lạnh, tôi đã cúi đầu chào, mái
đầu cũng đã lốm đốm trắng màu tro.
Tôi đứng bên cạnh những chiếc nôi, trong đó các chàng trai, cô gái
miền núi tương lai đang quẫy đạp, hay trong đó chỉ còn hơi ấm đứa bé đã
mang đi, hay trong đó chiếc chăn, gối nhỏ đã lạnh ngắt.
Bên mỗi chiếc nôi, tôi đều có cảm giác dường như tôi đang nằm trong
đó, dường như tất cả tương lai tôi còn ở phía trước: cả những con đường
mòn trên núi và những con đường rộng rãi ở nước Nga, cả những xa lộ,
những sân bay ở các nước xa xôi.
Tôi bế những đứa trẻ, khe khẽ hát bài hát ru, và bọn trẻ yên lành thiếp
dần trong tiếng hát vụng về của tôi.
Tôi đã ra thăm nghĩa địa làng Xađa, nơi những nấm mộ cũ cỏ dại mọc
đầy nằm bên những nấm mộ mới còn thơm mùi đất.
Tôi ngồi im lặng trong những ngôi nhà đang có đám tang, tôi vui vẻ
nhảy múa trong các đám cưới. Tôi đã nghe nhiều lời, nhiều câu chuyện trước
đây chưa từng nghe. Nhiều điều tôi đã biết và đã quên, tôi lại nhớ, lại trở về
từ đáy sâu ký ức...
Tôi nhìn thấy cái mới, nghe lại, nhớ lại những điều xưa cũ, và ý nghĩ
của tôi giống như những sợi chỉ nhiều màu quần quanh mọt ống suốt lớn.
Tôi đã tự hình dung tấm thảm sặc sỡ có thể dệt lên từ những sợi ấy.
Mới hôm qua còn trèo cây bắt chim
Kéo bè bạn lên chơi từng móm đá
Tình yêu đến, mắt trong xanh, kỳ lạ
Và bỗng dưng tôi khôn lớn, trưởng thành.
Nhưng nếu hôm qua, tôi đã tự coi mình
Chín chắn, khôn ngoan, chưa già - đầu đã bạc...
Tình yêu đến. Chỉ mỉm cười đơn giản
Thì trước tình yêu, tôi lại hóa trẻ thơ.
Tôi còn một thiên trường ca về tình yêu chưa viết xong. Chàng và
Nàng. Chàng - chính là tôi. Nhưng nhân vật chính - là tình yêu của tôi. Cần
phải viết nốt! Nhưng tôi có cảm giác dường như vừa nhận được một bức
điện đầy lo âu, và tôi phải gác mọi việc lại để vội vã ra sân bay.
Hay có khi thế này, sớm tinh mơ, người đàn bà vùng núi nhóm lửa lên.
Chị ta sửa soạn hâm đồ ăn còn lại từ hôm qua, đủ để cả gia đỉnh ăn no.
Nhưng bất ngờ, một người khách hiện ra trên ngưỡng cửa. Cần phải nhắc cái
nồi đựng thức ăn hôm qua xuống, cần phải làm món ăn mới.
Hay có khi thế này, trong đám cưới, các thanh niên cố ngồi gần chàng
rể, người bạn, người cùng lứ...
 





