BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI TÂN

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Screenshot_1309.png

    Lịch sử ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.Chào mừng quý vị đến với Website của Thư viện trường Tiểu học Hải Tân, thành phố Hải Phòng!
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Đaghextan của tôi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Thu
    Ngày gửi: 15h:13' 20-07-2025
    Dung lượng: 2.1 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Làm ebook: Quang Huy QPVN (huyqpvn@gmail.com)
    Ngày hoàn thành: 1/11/2015

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com


    QUYỂN 1



    Người dịch: Phan Hồng Giang (phần thơ do bằng Việt dịch)
    Người biên tập: Bùi Văn Hòa
    Họa sĩ: Enkônina N. M.

    © Bản dịch tiếng Việt, Nhà xuất bản Cầu vồng, 1984 - In tại Liên Xô

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    Nói về Raxun Gamzatop có nghĩa là nói về Đaghextan, xứ sở trên vùng
    núi Kapkazơ, nơi có 36 dân tộc đang chung sống, trong đó có dân tộc Avar.
    Raxun Gamzatop là người Avar. Thêm nữa: nói về Raxun Gamzatốp có
    nghĩa là nói về thơ ca, nói tới những trang ghi thêm vào thơ ca của Raxun
    Gamzatop, một trong những nhà thơ Đaghextan nổi tiếng nhất, tác giả của
    hàng chục cuốn thơ, trong đó có «Thơ bát cú» Gamzatop rất xuất sắc, vì nó
    là sự tái tạo thể thơ cổ vốn có sức quyến rũ tâm hồn và nhạc cảm. Nói về
    Raxun Gamzatop cũng tức là nói tới Gamzát Xađax, người đã làm rất nhiều
    cho việc giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân gian của dân tộc Avar. Có lẽ
    chúng ta sẽ bắt đầu từ đó. Nếu như lướt qua cuốn Từ điển bách khoa Liên-xô
    chúng ta sẽ đọc được những dòng: «Xađax Gamzát (1877- 1951) nhà thơ
    Xô-viết người Avar, nhà thơ nhân dân của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết Đaghextan (1934). Ông là cha của Raxun Gamzatốp..” Vâng, rõ ràng
    điều đó có nhiều ý nghĩa - ra đời trong gia đình một nhà thơ lớn, người đã đi
    vào lịch sử phát triển tinh thần của dân tộc mình. Điều đó cũng buộc Raxun
    phải nghĩ tới nhiều thứ. Và vấn đề không chỉ ở chỗ Raxun là con trai của
    Gamzát, viết văn từ rất sớm, năm 14 tuổi đã được in. Cần phải tìm cho ra
    con đường của mình, cũng như bản thân mình trong nghệ thuật; thế mà điều
    này lại rất không đơn giản, khi bên cạnh anh là một tài năng lớn, khi tên tuổi
    cha anh đầy ý nghĩa đối với dân tộc anh vừa soi sáng cho anh vừa động viên
    anh. Raxun đã lớn lên trên chiếc cây gia tộc mình như là một nhánh vững
    trãi, đáng tin, đẹp đẽ, một nhánh cây đã đâm hoa kết trái làm sống lại dòng
    nhựa của rễ cây bền vững lâu đời. Hôm nay đây Raxun Gamzatôp - cũng
    như cha ông - là nhà thơ nhân dân Đaghextan. Ông là thành viên của Chính
    phủ, đại biểu Xô-viết tối cao Liên-xô, người được Giải thưởng Lênin. Và
    thêm nữa, ông được mọi người yêu mến. Là người được độc giả và thính giả
    yêu mến, Raxun Gamzatop thường phát biểu, tiếp xúc với một cử tọa rộng
    lớn và đa dạng. Ông là người được dân tộc mình, được vùng núi Kapkazơ và
    tất cả đất nước Xô-viết yêu mến. Do đó khi Raxun viết xong cuốn văn xuôi
    này cũng đã gây nên được một sự quan tâm và hiếu kỳ to lớn. Qua những
    nhận xét đầu tiên người ta thấy rõ rằng cuốn sách đã thành công...
    Chúng ta cần kể về điều đó, bởi vì độc giả tương lai nhất định cần biết
    Raxun Gamzatop, con người yêu đời vĩ đại đó, người biết mừng vui vì cuộc
    sống, biết thưởng thức cuộc sống và chính bản thân mang cho cuộc sống ánh
    sáng và niềm vui, con người ấy là ai vậy. Song kể về cuốn sách «Đaghextan
    của tôi» khó khăn hơn là kể tóm tắt về tác giả của nó. Bói vì đây không phải
    tiểu thuyết, cũng không phải truyện vừa, đây không phải ký sự cũng không

    phải tư liệu. Đây là tác phẩm văn xuôi vượt ra ngoài định nghĩa và biến thể
    của loại hình văn học. Nó rất tự do và theo nghĩa ấy có thể ví nó như con
    chim bay và từ trên cao thấy rõ như trong lòng bàn tay, những núi non, khe
    vực thân thuộc, những làng mạc và phố phường, những nhà cửa và chợ búa,
    những con chim ưng và những con dê, niềm vui và nỗi lo lắng, quá khứ và
    có lẽ, cả tương lai. Nhìn chung nó là cuốn sách tự truyện, chỉ có điều đó là
    tiểu sử nhiều cốt truyện, nhiều giọng nói: tiểu sử của nhà thơ, tiểu sử làng
    bản thân thuộc và tiểu sự dân tộc... cuốn tiểu sử tự thuật nhiều thành phần
    này lại giàu chất thơ và rất chân thành. Nó đậm sắc trữ tình, nó dược sưởi ấm
    bởi sự hài hước nhẹ nhàng, nó được chiếu sáng bởi sự láu lỉnh - cái láu lỉnh
    tinh nghịch dí dỏm - chẳng khác nào trong chiếc tráp cổ kính không chỉ có
    một đáy mà trong mỗi đáy, lại còn chứa những điều bí mật của nó. Raxun
    Gamzatop biết sử dụng khéo léo ngôn ngữ huyền diệu của dân gian giàu
    nhạc điệu và đầy màu sắc, đồng thời biết hòa trộn bất ngờ các sắc điệu văn
    phong rồi nói lên bằng ngôn ngữ tươi mới và phóng khoáng của người
    đương thời.
    Cốt lõi của cuốn sách vẫn là phương pháp văn học hết sức giản dị.
    Dường như Raxun Gamzatop xin ý kiến độc giả và viết lời tựa cho cuốn sách
    tương lai cửa mình. Ông suy nghĩ kỹ càng về cuốn sách ấy, thấy khoái cảm
    vì nó, ông như quên đi những âm điệu khác nhau và những kiến giải cùng
    chiều, ông nhớ lại, ông suy ngẫm, ông trò chuyện với độc giả, với những
    người quen, với những người thân thuộc và người cùng làng. Ông cho chúng
    ta biết một lượng thông tin thú vị nhất về Kapkazơ, về Thơ ca, về Cuộc sống,
    về Con người, về Lịch sử. Tác phẩm được thêm vào nhiều truyện vừa mà
    mỗi truyện ấy cũng có thể thành một tác phẩm riêng. Đây đó trong tác phẩm
    ông tung ra nhiều câu tục ngữ, ngạn ngữ, ông kể những chuyện vui và cả
    những chuyện buồn đã xẩy ra với chính tác giả, với bạn bè ông hoặc nó còn
    được giữ lại từ lâu trong ký ức của nhân dân. Tác giả không sợ phải ngắt
    mạch truyện của mình bằng một cốt truyện khác, ông như đi lạc đề hoặc đùa
    vui, hoặc kể những chuyện hoàn toàn buồn - nói gọn lại, ông đã đối xử với
    bạn đọc như với người đối thoại tự do, sinh động, nghiêm túc và thông minh
    sắc sảo. Do đó ngay trong văn bản cuốn sách đôi khi không biết vì sao đó có
    vẻ là lạ như thế không phải là văn viết: nó có nhiều kiểu chữ khác, nhiều
    đoạn ngắt quãng, nhiều chỗ tách ra cứ như nó giữ lại trong bản thân dấu vết
    của thứ khẩu ngữ lộn xộn. Chính sự phá vỡ đó của hình thức nghệ thuật cuốn
    sách đã đám bảo cho dung lượng hết sức lớn của nó. Cuốn sách của Raxun
    Gamzatốp không chỉ là lời tự thú của tâm hồn nhà thơ, nó còn là một cuốn
    bách khoa thật sự về cuộc sống của dân tộc Avar. Có lần chính Gamzatop đã
    viết về bản thân mình như thế này: «Cha tôi gọi tên tôi là Raxun - mà theo
    tiếng Arập thì từ ấy có nghĩa là người đại diện. Hạnh phúc thay cho nhà thơ
    nào được độc giả nói về ông ta như thế này: đó là người đại diện của chúng

    tôi, người đại diện của nước chúng tôi, của nền thơ ca chúng tôi. Ở đây tôi
    không thể nói rằng tôi xứng đáng với tên của mình. Song bao giờ tôi cũng
    mong muốn được như thế. Tôi sống ở thủ đô nước Cộng hòa tự trị
    Đaghextan, tại thành phố Makhátkala trên phố Mácxim Gorki. Nhà 15. Khi
    các bạn tới vùng chúng tôi xin mời bạn ghé chơi nhà tôi. Lời chúc mừng yêu
    thích của tôi là: chúc cho những người tốt sẽ gặp những điều tốt đẹp, mong
    cho kẻ xấu sẽ gặp những điều xấu xa. Dù rằng điều đó thường xẩy ra ngược
    lại».










    Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh
    bằng đại bác.
    Ai qua đi rừng nếu chẳng đỗ nhà tôi. Thì mưa đá sấm rền sẽ đổ vào
    anh, sấm rền mưa đá! Nhưng nếu khách không vui vì lều tôi không rộng mở,
    thì mưa đá sấm rền sẽ đổ vào tôi, mưa đá sấm rền!
    (Lời ghi trên cửa)


    VỀ LỜI BẠT NÓI CHUNG

    Khi tỉnh dậy, chớ chồm ra khỏi giường như bị châm đốt. Trước tiên hãy
    ngẫm nghĩ về những gì đã đến với anh trong mơ.
    Tôi nghĩ rằng chính Đức Allah trước khi kể lại với đám hầu cận của
    mình một câu chuyện lý thú nào đấy, hay trước khi ban phát một lời giáo lý
    nào đấy, thì thoạt tiên cũng châm thuốc hút, chậm rãi hít một hơi thật dài và
    ngẫm nghĩ.
    Máy bay trước khi cất cánh, rồ máy rất lâu, sau đó người ta kéo nó
    ngang qua sân bay để ra đường băng, tiếp đây nó rồ máy ẩm ĩ hơn, từ từ
    chạy và chỉ sau khi làm xong những việc đó, nó mới bay lên không trung.
    Máy bay trực thăng không cần chạy một đoạn, nhưng nó cũng rồ máy
    rất lâu, gầm rít, toàn thân rung lên một cách căng thẳng, trước khi rời khỏi
    mặt đất.
    Chỉ có chim ưng trên núi từ vách đá lao thẳng vào bầu trời xanh thẳm,
    nhẹ nhàng lượn lên cao mãi, cao mãi cho đến khi biến thành cái chấm nhỏ

    xíu dần mất hút trên nền trời,
    Mọi cuốn sách hay cần phải mở đầu như vậy, không cần viện đến lời
    rào trước đón sau dài dòng, không cần đến lời nói đầu buồn té, bởi vì nếu có
    con bò lớn chạy ngang qua mà anh không kịp túm lấy sừng giữ nó lại thì anh
    sẽ không thể nắm đuôi mà giữ nó được nữa.
    Một ca sĩ cầm lấy cây đàn panđur. Tôi biết rằng ca sĩ có giọng khá hay,
    vậy thì việc gì anh ta lại phải “bật bông” lâu thế, nhạt nhẽo thê trước khi cất
    giọng hát? Cũng có thể nói như vậy về bản báo cáo đọc trước buổi liên hoan
    văn nghệ, về bài nói chuyện trước vở kịch sắp mở màn, về những lời giáo
    huấn tẻ ngắt mà bố vợ thết đãi chàng rể khi lẽ ra là nên mời ngay vào bàn
    tiệc và rót rượu ra cốc.
    Một lần, có mấy chàng hiệp sĩ khoe với nhau về thanh gươm của mình.
    Họ nói rằng những thanh gươm ấy được làm bằng thứ thép tốt như thế nào,
    những câu thơ tuyệt vời nào trích từ cuốn kinh Hồi giáo đã được khắc lên
    gươm. Trong số những chàng hiệp sĩ đó có Khátgi-Murát, người tù trưởng
    của Samin. Chàng nói:
    - Sao các người lại tranh cãi với nhau dưới bóng mát cây ngô đồng?
    Sáng sớm mai sẽ diễn ra một trận chiến đấu, và lúc ấy chính lưỡi gươm của
    các người sẽ chứng tỏ cái nào là tốt nhất.




    Nhưng tuy vậy, tôi nghĩ rằng, Đức Allah vẫn chậm rãi hút thuốc trước
    khi bất đầu câu chuyện kể của mình.
    Nhưng tuy vậy, ở vùng núi chúng tôi, vẫn có phong tục là kỵ sĩ không
    nhảy lên yên ngựa bên cạnh ngưỡng cửa của mình. Anh ta cần phải dắt ngựa
    ra khỏi bản. Cần làm như vậy chắc là để một lần nữa suy nghĩ xem anh đã để
    lại đây những gì và những gì sẽ đến với anh trên đường đi. Dù công việc
    thúc bách đến đâu, anh vẫn tư lự, chậm rãi cầm dây cương dắt ngựa qua bản
    để rồi sau đó, khẽ chạm chân vào bàn đạp, anh nhảy phắt lên yên, cúi rạp
    mình xuống và nhòa dần trong đám bụi đường.
    Đấy, tôi cũng vậy, trước khi nhảy lên yên cuốn sách của tôi, tôi cũng
    chậm chạp bước đi với vẻ đăm chiêu. Tôi cầm dây cương ngựa và đi bên
    cạnh nó. Tôi đang nghĩ ngợi. Tôi không vội nói thành lời.
    Lời nói lúng búng không phải chỉ trong miệng người có tật nói lắp, mà
    còn cả trong miệng người đang cố tìm một lời nào thích hợp nhất, cần thiết
    nhất, sâu sắc nhất. Tôi không hy vọng làm ai ngạc nhiên về sự sâu sắc, uyên
    thâm, nhưng tôi cũng không phải người nói lắp. Tôi đi tìm lời nói cần thiết.
    Abutalíp nói: Lời bạt một cuốn sách chính là cái cọng rơm mà người
    đàn bà miền núi mê tín ngậm ở răng khi vá áo choàng ấm cho chồng. Bởi vì

    nếu lúc ấy không ngậm một cọng rơm thì tương truyền rằng chiếc áo choàng
    sẽ biến thành tấm áo liệm.
    Abutalíp còn nói: Tôi giống như một người mò mẫm trong màn đêm
    tìm cửa để vào, hoặc là giống người đã sờ thấy cửa, nhưng còn chưa biết là
    có thể vào được không, có đáng vào hay không. Anh ta gõ cửa: cốc-cốc, cốccốc.
    - E hèm, trong nhà nghe đây này, nếucác người định luộc thịt thì
    đến giờ dậy rồi!
    - E hèm, trong nhà nghe đây này, nếu các người định giã lúa mạch,
    thì cứ ngủ cho khoẻ nhé, không việc gì phải vội cả.
    - E hèm, trong nhà nghe đây này, nếu các người định uống
    buza, thì đừng quên mời hàng xóm nghen!
    Cốc-cốc, cốc-cốc.
    - Này, thế thì tớ nên vào hay là các người không cần đến tớ?
    Con người cần hai năm để học nói và cân sáu mươi năm để học cách im
    lặng.
    Tôi không phải hai tuổi và cũng không phải sáu mươi. Tôi đang ở giữa
    độ đường. Tuy nhiên, có lẽ tôi gần điểm sau hơn, vì lời chưa nói tôi quý hơn
    tất cả những lời nói rồi.
    Cuốn sách chưa viết tôi quý hơn tất cả những cuốn đã viết. cuốn sách ấy
    là quý nhất, thân thiết nhất, khó khăn nhất.
    Cuốn sách mới là một cái động mà tôi chưa từng bước vào, nhưng cái
    động đó đã mở ra trước mắt tôi, mời chào tôi bước vào khoảng sâu thẳm mờ
    sương. Cuốn sách mới là con ngựa tôi chưa từng thắng yên cương, là con
    dao găm tôi chưa từng rút ra khỏi bao.
    Người vùng núi nói rằng: «Không cần thì đừng rút dao ra. Nếu đã rút
    rồi thì hãy đâm! Đâm một nhát thôi mà giết được cả kẻ thù lẫn ngựa”.
    Họ nói đúng lắm!
    Nhưng tuy vậy, trước khi rút dao găm ra khỏi bao, anh cần phải biết
    chắc xem nó có được mài nhọn không.
    Cuốn sách của ta, đã bao năm nay ngươi sống trong lòng ta! Ngươi là
    người đàn bà, người tình say đắm mà ta chỉ trông thấy từ xa, ta mơ tưởng tới,
    mà không sao tới gần được.
    Đôi lúc tưởng rằng nàng đã đứng đâu đây gần ngay bên cạnh - chỉ cần
    với tay ra là tới, nhưng ta rụt rè, bối rối, ta đỏ mặt và lùi xa.
    Nhưng bây giờ thì chấm dứt. Ta mạnh dạn bước lại gần và cầm tay
    nàng. Từ một chàng trai rụt rè yêu đương, ta biến thành một người đàn ông
    táo bạo, từng trải. Tôi thắng yên cương vào ngựa, quất nó ba roi - mặc cho
    nó lao lên.
    Nhưng tuy vậy, thoạt tiên tôi rắc thuốc lá trống trong vườn nhà miền
    núi lên miếng giấy nhỏ vuông vức, rồi từ từ cuốn lại thành điếu thuốc. Nếu

    tôi cuốn lại thật đều, thật mịn, thì khi hút sẽ thú vị biết bao!
    Cuốn sách của ta, trước khi ta bắt đầu viết, ta muốn kể rằng ngươi đã
    chín dần trong ta thế nào. Ta đã tìm được tên đặt cho ngươi thế nào. Vì lẽ gì
    mà ta viết. Và đâu là những đích tới trong cuộc đời ta.
    Tôi để khách xuống bếp, nơi đang pha những táng thịt cừu và ở đấy
    không phải đang có mùi thịt nướng bốc lên, mà là mùi máu, mùi thịt, mùi da
    cừu còn đang ấm nóng.
    Tôi dẫn bạn bè vào căn phòng làm việc thân thiết, nơi những bản thảo
    của tôi đang để ở đấy, và tôi cho phép họ lục lọi.
    Mặc dầu bố tôi nói: Người lục lọi bản thảo của kẻ khác cũng giống như
    người lục lọi túi áo kẻ khác.
    Bố tôi còn nói: Lời bạt gợi cho ta hình ảnh một người lưng rộng bè bè,
    trên đầu lại đội thêm cái mũ to sù sù ngồi chắn trước ta trong rạp hát. Nếu
    anh ta ngồi yên, không ngả sang phải, sang trái thì còn đỡ. Người ngồi trước
    như thế sẽ đem lại cho tôi, một khán giả, nhiều điều rất bất tiện và cuối cùng
    sẽ làm tôi bực tức.




    Rút trong sổ tay. Nhiều lần tôi có dịp phát biểu trong các buổi dạ hội
    thơ ca ở Maxcơva hoặc ở các thành phố của nước Nga. Những người đến dự
    không biết tiếng Avar. Thoạt tiên tôi tự kể đôi nét về mình bằng một thứ
    tiếng Nga chưa được sõi lắm. Sau đó các bạn nhà thơ Nga đọc bản dịch
    những bài thơ của tôi. Nhưng thường là trước khi bắt đầu, người ta yêu cầu
    tôi đọc một bài thơ bằng tiếng mẹ đẻ: “Chúng tôi muốn được nghe nhạc điệu
    của ngôn ngừ Avar, nhạc điệu của bài thơ». Tôi cất giọng đọc, tôi đọc chẳng
    khác gì tiếng «bật bông” trên cây đàn panđur trước khi ca sĩ hát.
    Lời bạt một cuốn sách cũng sẽ như thế chăng?
    Rút trong sổ tay. Khi tôi theo học đại học ở Maxcơva bố tôi gửi tiền cho
    tôi để mua bành tô mùa đông. Nhưng kết quả là tiền tôi tiêu hết mà bành tô
    thì không mua. Đến kỳ nghỉ đông, tôi về Đaghextan với bộ đồ đã mặc khi rời
    đó đi Maxcơva dạo hè.
    Về đến nhà tôi bắt đầu phân bua với bố, bịa ra đủ thứ chuyện, chuyện
    sau ngô nghê hơn chuyện trước. Khi thấy tôi đã hết phương biện bạch, bố tôi

    mới ngắt lời:
    - Thôi không nói nữa, Raxun. Bố muốn hỏi con hai câu.
    - Bố hỏi đi.
    - Mua bành tô chưa?
    - Con chưa mua.
    - Tiền tiêu hết chưa?
    - Con tiêu hết rồi.
    - Thế đấy, bây giờ thì rõ tất cả rồi. Việc gì con phải tuôn ra lắm lời vô
    ích như thế, việc gì phải sáng tác ra cả một đoạn mào đầu dài dòng như vậy,
    nếu thực chất của sự việc chỉ thể hiện trong đôi ba chữ?
    Bố tôi đã dạy tôi như thế.
    Tuy nhiên, đứa bé mới ra đời không thể biết nói ngay. Trước khi biết
    nói, nó phải bập bẹ những tiếng gì không rõ. Và có khi nó khóc vì bị đau mà
    đến mẹ đẻ cũng khó lòng biết được nó đau chỗ nào.
    Nhưng lẽ nào tâm hồn thi sĩ lại không không giống tâm hồn trẻ thơ?
    Bố tôi nói: Khi người ta chờ đàn cừu đi ăn trên núi về thì thoạt tiên họ
    thấy sừng con dê bao giờ cũng đi đàng trước, tiếp đó thấy cả con dê, và sau
    nữa mới thấy đàn cừu.
    Khi người ta chờ đợi nghỉ lễ đám cưới hay đám tang bắt đầu thì thoạt
    tiên họ nhìn thấy người cấp báo.
    Khi người ta chờ người cấp báo vào làng thì thoạt tiên họ nhìn thấy đám
    bụi mù, sau đó là ngựa và cuối cùng là người kỵ sĩ ấy.
    Khi người ta chờ người thợ săn trở về thì thoạt tiên họ nhìn thấy con
    chó của người thợ săn.





    CUỐN SÁCH NÀY ĐÃ RA ĐỜI THẾ NÀO
    VÀ NÓ ĐÃ ĐƯỢC VIẾT Ở ĐÂU

    Cả những đứa trẻ cũng từng gặp những giấc mơ lớn.
    Lời ghi trên nôi


    Vũ khí chỉ dùng đến một lần, cần phải mang theo suốt đời.
    Bài thơ mà anh sẽ ngâm nga suốt đời chỉ viết trong một lần.



    Có một con chim mùa xuân bay lượn trên làng bản khi xuân sang. Nó
    đang nghĩ xem nên nghỉ ngơi ở nơi đâu.
    Nó chợt nhìn thấy một mái nhà bằng phẳng, rộng rãi, sạch sẽ. Trên mái
    nhà là một cái sân nhỏ bằng đá. Từ khoảng không, con chim hạ thấp xuống
    và đậu trên sân nhỏ nghỉ ngơi. Người đàn bà miền núi đã nhanh tay tóm
    được chú chim và mang nó vào trong nhà. Nó nhận thấy mọi người trong
    nhà đều đối xử tốt với nó, và nó ở lại luôn tại đấy. Nó tự kết tổ trên cái móng
    sắt đóng vào thanh dầm ngang cũ kỹ bám đấy bồ hóng.
    Có phải cuốn sách của tôi cũng thế chăng?
    Đã bao lần, từ khoảng trời thơ ca của mình, tôi đã liếc nhìn xuống cánh
    đồng văn xuôi, cố tìm một chỗ để ngồi lại, nghỉ ngơi...
    Không, ở đây tốt hơn hết có lẽ nên so sánh với một chiếc máy bay đang
    cần hạ cánh xuống sân bay. Tôi đã lượn một vòng để từ từ hạ cánh. Nhưng vì
    thời tiết xấu, sân bay không nhận đón máy bay tôi. Đang bay một vòng rộng,
    tôi chuyển sang bay thẳng và lại bay tiếp xa hơn, mặt đất mong đợi vẫn nằm
    nguyên phía dưới... Đã nhiều lần diễn ra như vậy.
    Và tôi nghĩ, thế có nghĩa là tôi không được số phận dành cho một điểm
    tựa vững như bàn thạch. Thế có nghĩa là đôi chân tôi sẽ phải đi hoài không
    nghỉ trên trái đất này, đôi mắt tôi sẽ phải ngắm nhìn không chán những miền
    đất mới trên hành tinh này, và trái tim tôi phải luôn luôn sinh ra những bài ca
    mới.
    Giống như người thợ cày say sưa ngắm nhìn đám mây bay qua hay đàn
    sếu dăng hàng mềm mại, rồi, dứt bỏ niềm say mê ấy, lại cầm lấy tay cày mà
    đẳy đi với vẻ cần mẫn hơn nữa, tôi cũng lại ngồi vào bàn, viết tiếp bản
    trường ca bỏ dở giữa chừng.
    Phải rồi, thơ ca của tôi, dù tôi có so sánh nó với Khoảng trời nào đi nữa,
    riêng đối với tôi nó vẫn là miếng đất cày đi xới lại, là công việc nhọc nhằn
    của tôi. Tôi chưa từng viết văn xuôi.
    Rồi có lần tôi nhận được một phong bì dày. Trong phong bì là bức thư
    của tổng biên tập một tờ tạp chí mà tôi rất kính trọng. Bản thân người tổng
    biên tập đó tôi cũng kính trọng. Và vị tổng biên tập ấy cũng mở đầu bức thư
    bằng câu: «Raxun kính mến». Nói chung là hai bên đều tôn trọng nhau sâu
    sắc.
    Khi tôi mở bức thư ra đọc, nó đã làm tôi nhớ đến hình ảnh một tấm da
    trâu mà người dân miền núi trái ra phơi khô trên mái nhà. Và khi tôi lật
    những trang thư, chúng cũng kêu sột soạt không kém gì tấm da trâu đã khô,
    người ta gấp tư lại để mang vào nhà. Chỉ có điều là không có mùi hăng hăng,
    ngai ngái của tấm da thôi. Bức thư không có mùi vị gì.
    Nhân tiện cũng xin dẫn ra một đoạn trong bức thư của vị tổng biên tập
    đó: «Tòa soạn chúng tôi quyết định sẽ đăng trong các số tới của tạp chí
    những bài vở về những thành tựu, những việc làm tốt đẹp và quang cảnh lao

    động hàng ngày ở Đaghextan. Đây sẽ là câu chuyện về những người lao
    động bình thường, về các chiến công và nguyện vọng của họ. Đây sẽ là câu
    chuyện về ngày mai tươi sáng của miền núi quê anh, về những truyền thống
    lâu đời ở đó, nhưng chủ yếu - là về ngày hôm nay rất đáng ghi nhớ của miền
    quê ấy. Chúng tôi cho rằng một bài như thế tốt hơn hết là anh viết. Thế loại
    tùy anh chọn: có thể là truyện ngắn , bài báo, bút ký hay một loạt những
    phác thảo. Bài dài chừng 9-10 trang đánh máy. Thời hạn chừng 20-25 ngày.
    Chúng tôi rất hy vọng và xin cảm ơn anh trước...”
    Thời xưa, khi gả chồng cho con, người ta không cần hỏi đến ý kiến cô
    gái mà chỉ làm một cách đơn giản - nói theo ngôn ngữ bây giờ - là đặt cô ta
    trước việc đã rồi. Họ nói rằng mọi chuyện đã xong xuôi. Nhưng thậm chí
    ngay từ thời ấy, ở miền núi chúng tôi không một ai dám tổ chức đám cưới
    cho con trai mình khi cậu ta không đồng ý. Người ta nói rằng chỉ có một
    người nào đó ở làng Ghiđátli đã từng hành động như vậy. Nhưng lẽ nào vị
    tổng biên tập đáng kính của tôi lại là người làng Ghiđátli? Ông ấy đã quyết
    định tất cả thay tôi... Nhưng liệu tôi có quyết định kể về đất nước Đaghextan
    của tôi qua chín trang giấy nhỏ trong vòng 20 ngày không?
    Tôi cố quên bức thư xúc phạm tới tôi ấy. Song ít lâu sau, điện thoại của
    tôi bỗng réo lên gắt gao liên hồi, hệt như đó không phải là điện thoại, mà là
    một con gà mái vừa đẻ trứng xong. Tất nhiên, đó là điện thoại gọi từ tòa soạn
    tờ tạp chí nọ.
    - Chào anh Raxun! Anh nhận được thư chúng tôi rồi chứ?
    - Nhận được rồi.
    - Thế bài đâu?
    - Tôi... tôi... Nhiều việc quá... Chẳng có lúc nào rỗi.
    - Sao lại thế, anh Raxun? Không thể nói thế được. Tạp chí chúng
    tôi in tới gần một triệu bản. Nó được phát hành cả ở ngoài nước. Nếu quả
    thật là anh bận, chúng tôi sẽ phái đến anh một người. Anh sẽ phác ra vài ý,
    vài chi tiết, còn lại anh ta sẽ làm tất. Anh sẽ đọc lại, sửa qua rồi ký tên mình
    vào... Điều chúng tôi cần nhất là có tên của anh.
    - Ai không biết quý trọng khách thì hãy để cho xương của nó gãy
    hết đi! Nếu ai gặp khách với vẻ mặt khó chịu hay với vầng trán nhăn nhó thì
    hãy để cho trong nhà nó không có người già, - những người có thể khuyên
    bảo lời hay việc tốt, hãy để cho trong nhà nó không có người trẻ - những
    người sẽ nghe những lời khuyên bảo ấy! Chúng tôi đối xử với khách như vậy
    đấy. Nhưng cầu trời, các anh đừng phải đến chỗ tôi người nào khéo tay mau
    miệng. Tôi sẽ tự làm lấy được tất. Cái tay quai nơi cái bình của tôi, tôi cũng
    tự gắn vào. Nếu tôi bị ngứa lưng thì không ai có thể gãi chỗ ngứa ấy tốt hơn
    tôi.
    Cuộc thương lượng giữa chúng tôi đến đây là chấm dứt. Thế là xong!
    Tôi xin nghỉ phép một tháng và trở về làng quê Xađa.

    Ôi Xađa!.. Bảy mươi nếp nhà ấm cúng. Bảy mươi làn khói xanh tỏa lên
    bầu trời trong sáng của miền núi cao. Những ngôi nhà màu trắng trên mặt đất
    đen. Phía trước làng, phía trước những ngôi nhà màu trắng là những cánh
    đồng xanh bằng phẳng. Đằng sau làng, những vách đá dựng đứng. Những
    tảng đá màu xám nhấp nhô dựng trên làng chúng tôi hệt như những đứa trẻ
    tụ tập trên mái nhà bằng để nhìn xuống đám cưới đang diễn ra dưới sân. Đi
    tới làng Xađa, tôi nhớ lại bức thư mà bố tôi đã gửi về nhà khi lần đầu tiên
    nhìn thấy Maxcơva. Khó mà đoán được, chỗ nào bố nói đùa, chỗ nào bố nói
    thật. Ông ngạc nhiên về Maxcơva:
    «Hình như ở đây, ở Maxcơva, người ta không đốt lửa trong bếp lò để
    nâu ăn, vì bố không nhìn thấy người phụ nữ nào đóng bánh phân khô * trên
    tường nhà mình, không nhìn thấy từ các mái nhà khói đùn lên trông giống
    như chiếc mũ lông to tướng của Abutalíp. (* ở một sốvùng phía Nam, phía Đông Liên-xô, nhân
    dân thường dùng phân khô súc vật làm chất đốt. (ND.)

    Bố cũng không nhìn thấy những bánh xe lăn để ép phẳng những mái
    nhà kết bằng rạ. Bố không nhìn thấy người dân Maxcơva phơi cỏ khô trên
    mái nhà. Nhưng nếu họ không phơi khô cỏ thì sẽ lấy gì để cho bò ăn? bố
    không nhìn thấy một phụ nữ nào lê bước đi với bó củi khô, hay bó cỏ trên
    vai. Không một lần nào bố nghe thấy tiếng kèn zurna hay tiếng trống. Có thể
    nghĩ rằng thanh niên ở đây không lấy vợ và không tổ chức đám cưới. Dù bố
    có đi khắp các ngả đường của thành phố lạ lùng này thì bố cũng không hề
    thấy một con cừu nào. Thử hỏi người dân Maxcơva sẽ ngả thịt con gì nếu
    khách bước qua ngưỡng cửa nhà mình? Khi có bạn bè thân đến chơi nếu
    không mổ cừu thì lấy gì mà thết đãi? Không, bố chẳng thèm muốn một cuộc
    sống như thế. Bố muốn sống trong làng Xađa của mình, nơi mà bố có thể ăn
    món khinkal tùy thích, sau khi nói với mẹ cho thêm tỏi vào đó...»
    Bố tôi còn tìm thấy nhiều “nhược điểm» khác ở Maxcơva khi so sánh
    nó với làng quê hương. Tất nhiên là ông đã đùa khi ngạc nhiên rằng ở
    Maxcơva người ta không đắp phân khô lên tường nhà, nhưng ông đã không
    đùa khi ông dành tình yêu lớn hơn cho cái làng nhỏ của ông chứ không phải
    cho thành phố vĩ đại kia. Ông yêu làng Xađa của mình và không bao giờ đổi
    nó để lấy bất cứ một thú đô nào trên trái đất này.
    Làng Xađa thân yêu của tôi! Đấy, tôi đã trở về đây từ thế giới rộng lớn
    mà ở đó bố tôi đã nhận thấy bao nhiêu là «nhược điểm”. Tôi đã đi khắp thế
    giới ấy, và đã nhìn thấy bao nhiêu kỳ thú. Đôi mắt tôi hoa lên trước bao
    nhiêu cảnh đẹp phong phú, không biết dừng lại ngắm cảnh nào. Vừa nhìn
    một ngôi đền đẹp đẽ, đôi mắt tôi đã vội lướt sang một ngôi đền khác cũng
    đẹp như vậy; vừa thấy một gương mặt đẹp thì trước mắt đã hiện ra một
    gương mặt khác đẹp hơn; tôi biết rằng dù hôm nay tôi nhìn thấy những cái
    đẹp đến đâu, ngày mai tôi vẫn sẽ nhìn thấy những cái đẹp hơn... Như ta thấy
    đấy, thế giới này không bao giờ có tận cùng.

    Hãy tha lỗi cho tôi, hỡi những ngôi chùa Ấn-độ, những kim tự tháp Aicập, những ngôi đền cổ Italia; hãy tha lỗi cho tôi những xa lộ nước Mỹ,
    những đại lộ Pari, những công viên nước Anh, những ngọn núi Thụy-sĩ. Hãy
    tha lỗi cho tôi, nhừng người phụ nữ ba-lan, Nhật- bản, Rôm - tôi ngắm nhìn
    các bạn, nhưng trái tim tôi bình thản đập, và nếu nhịp đập của nó có nhanh
    hơn một chút, cũng không đến nỗi làm miệng tôi khô đắng và đầu óc quay
    cuồng.
    Vì đâu mà bây giờ, khi tôi lại nhìn thấy bảy mươi nếp nhà nép mình bên
    vách đá này, trái tim tôi bỗng đập liên hồi, làm tôi đau đau nơi lồng ngực,
    mắt tôi nhòa đi và đầu óc quay cuống như tôi đang bị ốm hay say rượu?
    Chẳng lẽ cái làng Đaghextan nhỏ bé lại đẹp hơn Vơnizơ, Cairo hay
    Canquytta?
    Chẳng lẽ người phụ nữ Avar chậm chạp bước đi trên con đường mòn
    nhỏ với bó củi trên vai đẹp hơn người đàn bà xứ Xcanđinavơ cao lớn, tóc
    màu hạt dẻ?
    Ôi, Xađa! Ta bước đi trên những cánh đồng của ngươi, và sương lạnh
    ban mai đã làm đôi chân ta hết mỏi.
    Tôi không lấy nước dưới lòng suối trong khe núi, chỉ lấy nước tận đầu
    nguồn rửa mặt. Người ta nói rằng nếu muốn uống, hãy uống nước nguồn.
    Người ta cũng nói rằng,- điều này tôi nghe bố tôi nói, - người đàn ông chỉ có
    thể quỳ trong hai trường hợp: để uống nước nguồn và để hái hoa. Xađa,
    chính ngươi là nguồn nước của ta. Tôi quỳ xuống, ghé môi và say sưa uống
    nguồn nước Xađa.
    Tôi nhìn thấy hòn đá-và một bóng hình trong suốt in lên đó. Đấy chính
    là tôi ba mươi năm về trước. Tôi ngồi trên tảng đá và chăn cừu. Trên đầu tôi,
    một cái mũ nhầu nát, tay tôi cầm một chiếc gậy dài, chân lầm đất.
    Tôi nhìn thấy con đường mòn nhỏ và một bóng hình trong suốt in lên
    đó. Đấy cũng là tôi ba mươi năm về trước. Tôi có việc sang làng bên cạnh.
    Chắc là bố tôi đã sai tôi đi.
    Trên mỗi bước đi, tôi gặp lại mình, gặp lại thời thơ ấu của tôi, gặp lại
    những mùa xuân, những cơn mưa, những bông hoa và những chiếc lá rụng
    mùa thu của tôi.
    Tôi cởi quần áo và ngâm mình dưới dòng thác trắng xóa. Dòng nước
    nhảy nhót từ vách đá này sang vách đá khác, tung bọt trắng rồi tụ lại thành
    dòng, và cuối cùng thì đập vào vai, vào tay, vào đầu tôi.
    Vòi tắm hoa sen ở khách sạn Pari “Hoàng cung” so với những thác
    nước mát lạnh này của tôi chỉ là một đồ chơi thảm hại bằng chất dẻo.
    Giữa những tảng đá ấm áp, dòng nước cháy từ nhánh sông trên núi, ấm
    dần lên. Bốn tắm màu xanh nhạt ở khách sạn Luân-đôn “Mêtơrôpôn” - chỉ là
    một cái đĩa nhỏ so với những bồn tắm giữa khe núi của tôi.
    Tôi thích đi bộ giữa lòng những thành phố lớn. Tuy vậy chỉ sau dăm sáu

    lần đi chơi lâu lâu, tôi đã bắt đầu cảm thấy thành phố trở nên quen thuộc và ý
    muốn đi chơi mãi trong thành phố dần tiêu tan.
    Nhưng tôi đã hàng nghìn lần đi trên các ngõ ngách làng tôi, thế mà tôi
    không hề thấy chán, tôi vẫn còn muốn đi nữa, đi mãi không thôi.
    Lần trở về này, tôi đến thăm từng ngôi nhà. Trong những ngôi nhà, bếp
    lò còn rực than hồng hay chỉ còn tro tàn nguội lạnh, tôi đã cúi đầu chào, mái
    đầu cũng đã lốm đốm trắng màu tro.
    Tôi đứng bên cạnh những chiếc nôi, trong đó các chàng trai, cô gái
    miền núi tương lai đang quẫy đạp, hay trong đó chỉ còn hơi ấm đứa bé đã
    mang đi, hay trong đó chiếc chăn, gối nhỏ đã lạnh ngắt.
    Bên mỗi chiếc nôi, tôi đều có cảm giác dường như tôi đang nằm trong
    đó, dường như tất cả tương lai tôi còn ở phía trước: cả những con đường
    mòn trên núi và những con đường rộng rãi ở nước Nga, cả những xa lộ,
    những sân bay ở các nước xa xôi.
    Tôi bế những đứa trẻ, khe khẽ hát bài hát ru, và bọn trẻ yên lành thiếp
    dần trong tiếng hát vụng về của tôi.
    Tôi đã ra thăm nghĩa địa làng Xađa, nơi những nấm mộ cũ cỏ dại mọc
    đầy nằm bên những nấm mộ mới còn thơm mùi đất.
    Tôi ngồi im lặng trong những ngôi nhà đang có đám tang, tôi vui vẻ
    nhảy múa trong các đám cưới. Tôi đã nghe nhiều lời, nhiều câu chuyện trước
    đây chưa từng nghe. Nhiều điều tôi đã biết và đã quên, tôi lại nhớ, lại trở về
    từ đáy sâu ký ức...
    Tôi nhìn thấy cái mới, nghe lại, nhớ lại những điều xưa cũ, và ý nghĩ
    của tôi giống như những sợi chỉ nhiều màu quần quanh mọt ống suốt lớn.
    Tôi đã tự hình dung tấm thảm sặc sỡ có thể dệt lên từ những sợi ấy.
    Mới hôm qua còn trèo cây bắt chim
    Kéo bè bạn lên chơi từng móm đá
    Tình yêu đến, mắt trong xanh, kỳ lạ
    Và bỗng dưng tôi khôn lớn, trưởng thành.
    Nhưng nếu hôm qua, tôi đã tự coi mình
    Chín chắn, khôn ngoan, chưa già - đầu đã bạc...
    Tình yêu đến. Chỉ mỉm cười đơn giản
    Thì trước tình yêu, tôi lại hóa trẻ thơ.
    Tôi còn một thiên trường ca về tình yêu chưa viết xong. Chàng và
    Nàng. Chàng - chính là tôi. Nhưng nhân vật chính - là tình yêu của tôi. Cần
    phải viết nốt! Nhưng tôi có cảm giác dường như vừa nhận được một bức
    điện đầy lo âu, và tôi phải gác mọi việc lại để vội vã ra sân bay.
    Hay có khi thế này, sớm tinh mơ, người đàn bà vùng núi nhóm lửa lên.
    Chị ta sửa soạn hâm đồ ăn còn lại từ hôm qua, đủ để cả gia đỉnh ăn no.
    Nhưng bất ngờ, một người khách hiện ra trên ngưỡng cửa. Cần phải nhắc cái
    nồi đựng thức ăn hôm qua xuống, cần phải làm món ăn mới.

    Hay có khi thế này, trong đám cưới, các thanh niên cố ngồi gần chàng
    rể, người bạn, người cùng lứ...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI TÂN - TP. HẢI PHÒNG !