BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI TÂN

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Screenshot_1309.png

    Lịch sử ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.Chào mừng quý vị đến với Website của Thư viện trường Tiểu học Hải Tân, thành phố Hải Phòng!
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Hà Nội bể dâu

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Thu
    Ngày gửi: 15h:15' 20-07-2025
    Dung lượng: 1'000.7 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    HÀ NỘI BỂ DÂU
    Tác giả: Nguyễn Văn Thịnh
    Truyện ký
    Ebook: Cuibap
    Nguồn text: nguyenvanthinh4065.com

    https://thuviensach.vn

    Lời Tác Giả
    Thưa bạn đọc:

    Bởi tôi nghĩ hồi ký chỉ dành cho những nhân vật tầm cỡ hoặc chí ít
    cũng lưu lại dấu ấn trong đời sống cộng đồng. Tôi không có được cái hân
    hạnh ấy, chỉ nghĩ mình như một con cá trong bầy cá tung tăng bơi lượn theo
    dòng chảy lịch sử. Nếu không có bầy cá thì một con cá chẳng là chi. Nhưng
    một con cá trong bầy cá ngược xuôi ngang dọc nổi chìm khiến người ta
    nhận ra dòng chảy kia mạnh, nhẹ, xoáy, yên để bày cá lúc chụm lại, lúc tản
    ra, con mất con còn và cuối cùng tan biến vào biển cả mênh mông.
    Đó là những chương ký sự riêng chung lẫn lộn của thời niên thiếu hồn
    nhiên và thời thanh niên đầy biến động với những thân phận con người
    trước cuộc đời dâu bể.
    Tự bach:
    Bác sỹ Nguyễn Văn Thịnh, sinh năm 1940 tại Hà Nội, hội viên Hội
    Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1966 tham gia kháng chiến chống
    Mỹ ở chiến trường Nam Bộ và tiếp sau là cuộc chiến bảo vệ biên cương ở
    hai đầu đất nước. Năm 1997, mấy truyện ngắn đầu tay được đăng trên Tuần
    báo văn nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam, tiếp sau viết nhiều thể loại: Tiểu
    thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kịch, thơ, phê bình, tiểu luận. Có tác phẩm
    được giải thưởng của Trung ương và Thành phố, nhiều bài đăng trên các
    báo, trang mạng sạch trong và ngoài nước, được dư luận quan tâm.
    Cầu mong dân nước yên ổn , thanh bình, xã hội tiến bộ, văn minh,
    người người sống trong hòa ái.
    (Nguyễn Văn Thịnh)
    Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
    Do thị Thăng Long cựu đế kinh
    Cù hạng tứ khai mê cựu tích

    https://thuviensach.vn

    Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
    Thiên niên phú qúy cung tranh đoạt
    Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
    Thế sự phù trầm hưu thán tức
    Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh
    (Trăng xưa soi thành phố mới
    Thăng Long – Hà Nội cố đô
    Phố phường đường xưa lạc lối
    Rập rình điệu nhạc lạ tai
    Bon chen ngàn năm phú qúy
    Người thân nửa mất nửa còn
    Than chi sự đời chìm nổi
    Trên đầu tóc trắng như mây)
    NGUYỄN DU

    https://thuviensach.vn

    1
    Người Hà Nội
    Những tình cảm nơi học đường sáng lạn
    Quên làm sao tuy dĩ vãng xa xôi
    Vì đó là những kỷ niệm của thời
    Thời cắp sách – thời vô ngần trong sạch
    Lâm Sỹ Ngọc

    Năm 1952, vừa 12 tuổi, tôi theo học lớp đầu Đệ nhị cấp (từ Đệ thất
    đến Đệ tứ – nay là trung học cơ sở), nhìn những anh hệ Đệ nhất cấp (từ Đệ
    tam đến Đệ nhất – nay là trung học phổ thông) lớp trên với con mắt cảm
    phục kính trọng lắm. Hệ công lập Hà Nội sau ngày quân Pháp tái chiếm lúc
    đầu chỉ có Trường Lycée Albert Sarraut ở phía trước dinh Toàn quyền dành
    cho lũ con tây và con viên chức lớn hoặc nhà giàu người Việt và Trường
    Chu Văn An quen gọi là Trường Bảo hộ (École protecteural) hay là trường
    Bưởi, bị Pháp chiếm làm trại lính nên phải dời về Hàng Cót, rồi xuống
    Hàng Bài, con trai con gái học chung. Trường Hàng Bài xưa là Trường Gia
    Long dành cho con gái, năm 1950 mới tách ra: Trường nữ học Trưng
    Vương sang đường Hai Bà Trưng gần Nhà hát lớn, lúc đầu chỉ có hệ Đệ nhị
    cấp; Trường Nguyễn Trãi ở lại phố Hàng Bài; Trường Chu Văn An lên Cửa
    Bắc (Trường Cao đẳng sư phạm = École normale), sau hòa bình 1954 mới
    về lại điểm cũ bên Tây hồ.
    So với bây giờ, đường xá xe cộ của Thủ đô thời ấy cũng chỉ như một
    phố huyện thôi. Đa phần học sinh và không ít thầy giáo đến trường đều đi
    bộ. Học sinh đi xe đạp thời đó ít hơn cả số học sinh đi xe @bây giờ nhiều.
    Dù nhà giàu cũng chỉ cho con đi xe xích lô (cyclo) chứ không dám cho con

    https://thuviensach.vn

    đi xe đạp vì sợ cái họa tai nạn lưu thông! Xe ô tô dân sự lơ thơ nhưng xe
    nhà binh thì nhiều. Giữa phố phường mà chúng phóng bạt mạng. Thằng lái
    xe cần gì có bằng lái, cần gì sợ có hơi men. Men càng nồng tay càng vô tư
    cẩu thả với cái vô lăng, bất cần đời. Lính mới ở chiến trường hút chết trở
    về, lính ngày mai bị đưa ra trận mạc, tha hồ túy lúy càn khôn! Tay lái xe,
    tay cua gái, cười hô hố, thét the thé, khóc hu hu… mặc sức như chỗ không
    người! Xe nhà binh cán chết người, chết vật vô tội vạ! Thậm chí chúng còn
    cố tình gây ra tai nạn để được bỏ tù còn hơn là bỏ xác ngòai chiến trận!
    Học sinh đi xe đạp thường là ở lớp trên và nhiều anh cũng bạo phổi to
    gan ngang tàng lắm.
    Nhà anh ở phố Hàng Đào. Nhà tôi ở phố Hàng Bè. Cùng đi về mãi
    trên một con đường, quen mặt biết là cùng trường lớp trên lớp dưới. Một
    hôm tôi đang cắp cặp vội vã nửa đi nửa chạy trên hè vì sợ muộn giờ. Bỗng
    có tiếng gọi to sát ngay bên:
    - Ê… Nhóc!
    Tôi quay ra. Xe anh đỗ sát lề hè. Miệng cười thân thiện, hất hàm gọi
    tôi:
    - Lên đây đi!
    Dù bẽn lẽn nhưng cũng không thể chối từ sự giúp đỡ của một anh lớp
    trên trong trường hợp ấy. Tôi ngồi nghiêng trên đòn ngang khung xe. Anh
    ngoáy chân đạp vù vù.
    Chúng tôi từ biết mặt đến quen nhau từ đấy.
    Anh thường chở tôi đi về mỗi khi anh em gặp nhau trên đường.
    Khi một chiếc xe nhà binh nhâng nháo phóng ào qua, anh dạt xe sát lề
    đường chửi:
    - Đồ chó đểu!
    - Mũ đen (biệt kích), mũ đỏ (nhảy dù) thằng nào đểu hơn? – Tôi hỏi.
    - Thằng nào cũng đểu!
    Có lần anh hỏi dò tôi:
    - Nhóc có thích đi lính không?
    - Em chưa lo – Và tôi hỏi lại:
    - Đỗ tú tài anh có thích đi sỹ quan không?
    https://thuviensach.vn

    - Nhóc thích commando (biệt kích) hay parachute (nhảy dù)? – Chắc
    anh thử tôi.
    - Em không thích đánh nhau!
    Có lần anh đèo tôi về tận nhà và vào chơi. Mẹ tôi mừng lắm nói:
    - Em nó còn nhỏ dại, nhờ các anh lớp trên bảo ban cho!
    Dường như anh cảm mến tôi và tôi cũng qúy anh.
    Đầu năm học mới, một hôm vào lúc tan trường, tôi vừa đi ngang tới
    dấu viên đạn canon ngày xưa tàu chiến Pháp đậu ngòai sông Cái bắn thẳng
    vào cửa Bắc thành thì có một chiếc ô tô TRACTION –15 trờ sát tới, tôi
    nhảy vội lên vỉa hè cũng vừa lúc xe dừng lại và anh mở cửa xe thò đầu ra
    tay vẫy:
    - Lên đây mau!
    Xe vừa chạy anh cười khoái trá khoe với tôi ngay:
    - Phần thưởng đậu tú tài của bố mẹ anh đây! Hôm nay chia vui với
    nhóc tỷ một chầu.
    Anh lái xe chạy khắp các phố, vòng quanh Bờ Hồ rồi đãi tôi một chầu
    kem Hồng Vân. Anh cho biết đang học lớp Dự bị đại học P.C.B.
    (Physic=Lý; Chimie=Hóa; Biologie=Sinh). Tôi nghĩ bụng nhà anh có cửa
    hàng buôn bán tơ lụa lớn thế thì giàu lắm. Tôi mà đậu tú tài thì phần thưởng
    là chiếc xe đạp PEUGEOT đã luých (lux) lắm rồi!
    Từ đó tôi không gặp anh nữa.
    Nhiều lần qua phố, nhìn vào cửa hàng nhà anh, tôi chỉ thấy tíu tít
    người ta ra vào mua bán. Tôi vốn nhát, vả anh có phải là bạn đâu? Chỉ
    mong thấy bóng anh là tôi sẽ chạy tới liền. Tuy nhiên cái dáng lưng cong
    cong, hai tay khuỳnh khuỳnh, ngồi trên chiếc xe đạp STERLING có cái yên
    cao vổng lên, nét mặt linh lỉnh khinh đời, miệng huýt sáo gió, hai chân
    phóng tít thò lò cứ ấn tượng trong lòng tôi mãi.
    Ngày tháng qua đi mà cái cảnh thanh niên học sinh trốn lính diễn ra
    thường lắm. Có lần cảnh binh với lính ập vào trường, xông vào từng lớp bắt
    người. Nhiều anh lớn nháo nhác chạy vòng quanh, có anh nhanh chân
    phóng ào qua cửa sổ vượt bờ tường lủi biến đi. Tuy nhiên lần nào cũng có

    https://thuviensach.vn

    người bị tóm cổ lôi xềnh xệch ra sân trường, tống lên xe cam nhông
    (camion) phóng đi mất hút.
    May mà tôi chưa kịp lớn để phải chịu chung cảnh ấy thì có Hiệp định
    hòa bình. Đám nhỏ chúng tôi háo hức lắm. Cái lo của cha mẹ mãi sau này
    lớn lên tôi mới hiểu và thương mà cũng chẳng giúp được gì. Cha tôi đã ký
    hợp đồng ở sở làm, lĩnh trước ba tháng lương để đưa cả nhà vào Nam.
    Nhưng sau nghĩ dại gì bỏ đi bơ vơ xứ người xa lạ, biết bao giờ về lại quê
    hương? Chi bằng ở lại với chính phủ Cụ Hồ, nước nhà độc lập, sống yên
    tâm cho các con hơn. Chúng tôi không thể nào quên những ngày tản cư:
    chạy càn, máy bay ném bom, obus (trái phá) rít trên đầu, nhà cháy, người
    chết giữa đường, học với mấy bạn lớn bé chung một lớp do cha tôi dạy tại
    nhà ở nhờ dân, năm lần bảy lượt bỏ giữa chừng vì làng mạc bị giặc càn tới
    đốt phá, gia đình đành phải hồi cư mà lúc đó bà con quen gọi là “dinh tê”
    (entrée) vào thành. Những ngày chờ “móc” người đưa đường, gia đình tôi
    trú tạm một căn nhà vô chủ tại Đầm Đa, Ninh Bình. Ở đây có mấy anh
    thanh niên tuổi đôi mươi chán chường thế cuộc, dùng dằng nửa ở nửa về.
    Ban đêm các anh ra vùng giáp ranh tề-ta buôn lậu những hàng thuốc tây,
    bút máy, đồng hồ, mũ nồi, áo len, khăn ấm… Có khi bị du kích truy đuổi,
    chạy thục mạng, bỏ của giữ lấy người! Ban ngày thì ngủ vùi hoặc đánh cờ
    và thường nghêu ngao dấm dứt bài thơ:“Thôi thế từ nay là dứt tình / Vấn
    vương gì nữa nợ đao binh / Muốn học người xưa làm ẩn sỹ / Vách núi đề
    thơ với một mình / Còn đấy ai đi thì mặc ai / Mặc ai, ai đó áo chưa phai /
    Mình về mình biết mình thôi nhỉ / Tiếc gì tơi tả áo cầu vai / Mới ngòai hai
    mươi mùa xuân thôi / Mà thấy hình như tóc bạc rồi / Bụi bậm đua chen là
    thế đấy / Hay gì người hỡi, hỡi ta ơi! / Bút đã từng phen làm gió mưa /
    Từng lui giặc nước một lời thơ / Cũng thôi, tàn mộng bình thiên hạ / Sự
    nghiệp ơ hờ cơn gió đưa / Nghề súng thua gì ai nữa đâu / Từng thét ba
    quân trận thắng đầu / Cũng không mơ nữa làm nguyên soái / Nấm mồ
    chiến tướng biết nông sâu? / U ẩn hằn lên vầng trán cao / Hết Chiến khu
    Ba sang đất Lào / Rồi lại quay về mơ Việt Bắc / Đi mãi đi hoài, đi đến đâu?
    / Đi mãi để mà đi đến đâu / Có dễ mà đi đến bạc đầu / Vẫn ở lưng chừng
    đường lỡ dở / Mà nhìn kẻ trước ngắm người sau / Đã chót đầu thai phận
    https://thuviensach.vn

    lỗi thời / Thì dù đi mãi cũng là thôi / Tìm môt cô thôn mà ẩn giật / Lại đẹp
    lung linh một góc trời / Mình biết thương mình, mình về thôi / Còn bao
    thằng nữa nhớ thương ôi! / Từng đêm dằng dặc buồn không ngủ / Đốm lửa
    đầu tay đã tắt rồi / Chẳng học ai xưa làm hàng thần / Đẹp gì Từ Hải lúc sa
    chân? / Thà như Từ Thứ trong rừng vắng / Danh lợi bao nhiêu cũng chẳng
    cần / Rồi đến khi nào tóc bạc phơ / Đời đã quên người trai thuở xưa /
    Chẳng làm thi bá, không danh tướng / Vuốt bộ râu tiên đánh ván cờ”!Cái
    tuổi lên mười thơ dễ nhập tâm và âm ỉ nhớ dai. Thời chống Mỹ đó là loại
    thơ chiêu hồi, tôi bẵng quên đi. Đến độ “vuốt râu đánh cờ” chợt lúc bật ra
    từng khúc, chắp lại và thấy thương quá một lớp người!
    Ngày 10 tháng 10 năm 1954, tôi trong dòng người đứng dọc Chợ
    Hôm–Đức Viên–Phố Huế hớn hở đón các anh bộ đội từ phía Chợ Mới Mơ
    tiến về cùng hát chung bài ca: Trùng trùng say trong câu hát / Lớp lớp đoàn
    quân tiến về / Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng… Bao nhiêu là
    hoa, bao nhiêu là người hò hát, gào thét khản cả cổ, vừa cười vừa khóc vui
    sướng tưng bừng.
    Cuộc đời dâu bể, lúc đó thằng bé 14 tuổi là tôi chẳng thể nghĩ rằng 21
    năm sau nó lại từ rừng miền Đông ngồi trên đoàn xe giải phóng băng băng
    trên những con đường nhựa thênh thang tiến về thành phố Sài Gòn. Điều
    tôi sớm nhận ra là không như người Hà Nội thời niên thiếu của tôi, sự đi
    hay ở mỗi người có thời gian 300 ngày lựa chọn. Bây giờ, người Sài Gòn
    đa phần còn ngơ ngác bàng hoàng với “biến cổ trời sập” vừa diễn ra đây!
    Qua nỗi sợ lúc đầu, có vui chỉ là vui gượng vì chưa biết hậu sự sẽ ra sao:
    lấy gì để ăn và làm gì để sống? Chỉ sau mấy ngày, chợ trời đã mọc ra nhan
    nhản trên các con đường ở trung tâm thành phố. La liệt áo quần bốn mùa đủ
    mầu lòe loẹt, đồ gia dụng, đồ điện tử, nhiều thứ lạ chưa từng thấy! Người
    mua chủ yếu từ hậu phương lớn mới vào. Đám ở rừng về chỉ đi “chợ ngó”!
    Giữa tháng năm các tỉnh phía Nam mở hội mừng ngày thống nhất. Lời bố
    cáo từ Chính phủ trung ương: “Đây là đại thắng lợi cùa toàn dân tộc Việt
    Nam, không phân biệt Bắc-Nam, bên này bên nọ; kẻ thua là những thế lực
    xâm lược và bọn người coi rẻ quyền lợi của quốc gia dân tộc”! Người nghe
    chẳng thể biết ai là người thấy nặng, nhẹ trong lòng. Tôi thở phào đã thoát
    https://thuviensach.vn

    chết chẳng lưu luyến gì trở về quê hương với bao nhiêu hy vọng được sự bù
    đắp của gia đình và xã hội.
    Nhớ lại ngày đầu năm 1955 cả Thủ đô mừng đón Chính phủ kháng
    chiến trở về. Lũ trẻ chúng tôi như muốn bay lên dưới tay Bác Hồ cầm chiếc
    “mũ cát” nhịp cho cả ngàn vạn người cùng hát vang lên. Lần đầu tiên người
    Hà Nội cùng nhìn về một hướng hát chung một bài ca: Kết đoàn chúng ta
    là sức mạnh / Kết đoàn chúng ta là thép gang / Đoàn kết ta bền vững… còn
    hơn cả thép gang! Lời ca gây niềm tin mới. Một buổi sáng, chưa tới giờ ra
    chơi mà trống đánh thúc dồn dập khác thường. Thầy giám thị nhắc nhở các
    lớp mau xuống sân trường. Ông Tổng Trọng (Tổng giám thị) hối thúc các
    lớp mau xuống sân trường, mời các thầy cô giáo đứng trước chân cột cờ và
    bảo học trò xếp hàng nghiêm chỉnh. Chúng tôi nghển cổ chờ xem có
    chuyện lạ gì. Tôi len lỏi tới chân bậc tam cấp. Một đoàn người từ Phòng
    Hội đồng lố nhố đi ra. Thầy giám học Đào Văn Khánh bước nhanh lên
    trước, ra hiệu cho học trò im lặng. Thầy Hiệu trưởng Đào Văn Trinh phong
    cách đĩnh đạc, trịnh trọng, chậm rãi giới thiệu Bác Hồ đến thăm trường…
    Lần đầu trong đời, lũ trẻ chúng tôi được tận mắt nhìn thấy Bác. Ông cụ
    hiền từ, giản dị, đôi mắt sáng tinh anh, giơ tay xua xua để các cháu hạ cơn
    phấn chấn. Bác nói đại ý: Mấy năm qua, Bác và Chính phủ phải dời lên
    chiến khu lãnh đạo kháng chiến. Vừa trở về Thủ đô được ít ngày, hôm nay
    Bác tới thăm trường. Trước hết thay mặt Chính phủ Bác xin lỗi vì để các
    cháu bấy lâu phải sống trong vùng giặc tạm chiếm. Bây giờ nửa nước ta
    được giải phóng rồi thì các cháu phải chăm chỉ học hành và siêng năng
    giúp đỡ cha mẹ trong công việc hàng ngày để sau này thành người lao động
    có văn hóa phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân; thầy trò phải đoàn kết cùng
    tòan dân xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, mọi người
    được ấm no, sung sướng, các cháu nhỏ đều được học hành. Bác nói ngắn
    thôi rồi ra về. Cả đoàn gần chục người đi có một chiếc xe con và một chiếc
    xe zeep cũ. Những lời dạy của Bác lúc ấy thật mới lạ. Nghe tôi kể lại, cả
    nhà ai cũng rưng rưng trước tấm lòng nhân ái quảng đại của Cụ Hồ. Về sau,
    thuận dịp nào vui tôi buột kể chuyện này thì không mấy ai tin, có người cho
    rằng tôi bày đặt chuyện ra có ẩn ý gì! Cả dân tộc này đều phải nhớ ơn vị
    https://thuviensach.vn

    “cha già dân tộc” chớ sao có sự ngược đời! Tôi ấm ức mãi trong lòng. Sau
    tình cờ đọc mấy câu thơ của Chế Lan Viên: “Quanh Hồ Gươm không ai
    bàn chuyện vua Lê / Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ / Hiểu sao hết
    được tấm lòng lãnh tụ / Tìm đường đi cho dân tộc đi theo”, tôi mới thấm
    cái tình đời.
    Chúng tôi vẫn được học hành, được vào Đội thiếu niên quàng khăn
    đỏ, được nhảy múa những điệu mới lạ: mí đồ đồ đồ phá mí rê / rê đô sì đô
    rế sòn sòn… hoặc là: sol sol sol đố sol / sol sol sol đố rê / rê rê rê mí sì
    rê… nhộn lắm, được hát hò ca ngợi Bác, Đảng, các anh bộ đội và lao động
    vinh quang, được học tập giác ngộ thế nào là giai cấp phản động và tiến bộ,
    là xã hội chủ nghĩa ưu việt – không người bóc lột người, tiến tới xã hội
    cộng sản “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” và mơ ước được như
    Liên Xô – thiên đường hạ giới… Chúng tôi tin đang được sống trong một
    xã hội tốt đẹp nhất của lòai người mà “người lao động làm ông chủ”, giới
    quan quyền xưa đã bị lịch sử chôn vùi, thay vì là những “cán bộ như người
    đầy tớ trung thành tận tụy”. Tương lai thanh niên nam nữ sẽ như những
    ông hòang bà chúa. Bấy giờ mới vỡ ra rằng cái khu biệt thự tây kín cổng
    cao tường kia là hang ổ của những tên thực dân đầu sỏ và bọn Việt gian
    trùm sò! Cái trường tây mang tên một thằng thực dân chóp bu chuyên đào
    tạo ra những kẻ tay sai mẫu quốc nói tiếng tây thạo hơn tiếng mẹ đẻ, nay là
    cơ quan đầu não của Nhà nước nhân dân kiểu mới!
    Hai năm sau ngày giải phóng, chúng tôi được học theo hệ phổ thông
    10 năm, nói là theo chương trình của Liên Xô. Thì biết vậy! Trước kia Tiểu
    học cho hệ điểm 10, Trung học cho hệ điểm 20, nay theo Liên xô cho hệ
    điểm 5, được thầy giải thích là gọn mà chuẩn. Chúng tôi bảo nhau: 5 hay 10
    cũng thế thôi – Dù 20 cũng chẳng khác gì!
    Khi Đoàn thanh niên thành phố phát động trong giới học sinh – sinh
    viên dấy lên phong trào Bài trừ văn hóa nô dịch, những sách cũ tây-tàu-ta
    bất luận đều gom lại đốt đi hoặc đem nghiền thành bột giấy! Ông thầy dạy
    nhạc Vũ Nhân thay thầy Thẩm Oánh đi Nam, sáng tác hưởng ứng một bài
    phổ ra cả trường đều hát: “Thi đua bài trừ văn hóa nô dịch chúng ta nêu
    cao gương đấu tranh tòan dân… Đốt phá cho bằng hết văn hóa suy đồi từ
    https://thuviensach.vn

    bao lâu lũ đế quốc xâm lăng reo rắc sầu”… Thế mà ít lâu sau vắng bóng
    thầy. Nghe tin thầy bị bắt đem đi đâu! Thầy nguyên là trung úy quân đội
    quốc gia thì ai cũng biết nhưng không ai được biết thầy đã làm việc gì
    phạm pháp? Chẳng biết có bị đưa ra trước tòa xét xử hay không nhưng sau
    này nghe đâu thầy bị ngồi tù hơn chục năm mới được tha. Về nhà, nhờ thạo
    mấy nốt sol-đố-mì-la cuối đời làm nghề dạy nhạc kiếm ăn nhẹ nhàng. Thầy
    Lại Cang dạy Văn tôi gần suốt cả thời trung học. Thi tốt nghiệp trường Đại
    học sư phạm đúng vào năm 1954, nhận giấy công vụ vào Huế dạy trường
    Quốc học nhưng thầy ở lại nhận sự phân công của chính phủ kháng chiến
    vừa về tiếp quản Thủ đô. Tuy nhiên đám học sinh đệ nhị cấp (cấp hai)
    nhiều trường tư thục biết tiếng từ khi thầy còn là sinh viên đi “bán cháo
    phổi”. Thầy đa tài, có ba bằng: Cử nhân Văn chương, Sử học và Triết học.
    Ngòai ra thầy cũng giỏi cả Tóan học, Anh ngữ, Pháp ngữ và Hán ngữ. Thầy
    viết nhiều sách khảo cứu văn học cổ điển rất công phu. Thầy kể khi viết về
    Nguyễn Bỉnh Khiêm phải đọc cả triết học Trung hoa và Ấn Độ. Dáng dong
    dỏng, da ngăm ngăm, tóc hớt cao, đôi mắt lim dim mơ màng sau tròng kính
    cận dày cộp, mặc xuềnh xòang nhưng thầy giảng cuốn hút làm sao. Văn
    học cổ điển, văn học lãng mạn ta tây, thầy truyền cái say sang trò. Có lần
    thầy nói: Giữa giảng văn, bình văn, tán văn ranh giới rất mơ hồ. Làm sao
    truyền được cảm hứng văn chương nghệ thuật cho người nghe mới là điều
    cốt yếu. Tôi đến với văn chương khởi nguồn cũng từ những giờ giảng ấy.
    Sau này, nghe về cái chết của thầy sao mà oan trái! Con người đa tài mà bất
    lực trước thời thế. Trí lớn ngày một mỏi mòn dễ sinh ra trạng thái tâm thần
    bất định! Tôi nhớ buổi giảng về Annakarênina, nét mặt thầy u ám. Cái tai to
    buông thõng xuống của người chồng quan là nỗi ám ảnh suốt đời nàng tới
    mức không chịu nổi! Và cái chết của người đàn bà đa đoan ấy có là tiền
    định với thầy?
    Tuy nhiên chúng tôi vẫn vui vẻ nhởn nhơ, không để ý tới những mối
    lo toan phấp phỏng của cha mẹ do cuộc sống ngày càng khó khăn thắt ngặt
    hơn. Những lần đi qua phố Hàng Đào, tôi để ý cái bảng hiệu nhà anh cùng
    mấy lời chào: “Hàng tơ lụa – Bán buôn – Bán lẻ”
    đã thay bằng cái bảng to
    tướng bề thế lắm đề: “Công ty bông vải sợi quốc doanh” mà chẳng thấy
    https://thuviensach.vn

    hàng gì là bông, vải, sợi. Rồi sau lại thấy trưng ra mấy cái quầy bày lỏng
    chỏng lơ chơ những đồng hồ cũ, kính và bút máy với một tấm bảng nhỏ
    viết tay: “Máy khắc chữ”. Có lần tôi ghé vào thử khắc lên cây bút chữ Thân
    tặng… để kỷ niệm một người bạn gái, nhân thể tò mò nhìn sâu vào trong thì
    cảm giác như ngôi nhà nhiều chủ.
    Đến khi bước chân vào trường Đại học tôi chỉ được tiếp quản cái xe
    đạp cà tàng của bố và chợt nhận ra mình không là thành phần đáng tin của
    xã hội mới này! Ông cán bộ tuyên huấn nói toạc móng heo: Đây là nhà
    trường của công nông thì con em công nông làm chủ. Các thành phần khác
    mới đúng là được ưu tiên! Xã hội đã phân chia giai cấp rồi mà trong trường
    học còn chia ra nhiều đẳng cấp. Nhất hạng là các anh bộ đội và cán bộ.
    Thượng thặng là những đảng viên. Thứ đến là con em liệt sỹ, miền Nam,
    miền núi, công nông, lao động. Hạng bét là thành phần tạp nham dễ lung
    lay chao đảo, chỉ lơ thơ mấy đứa coi như là chiếu cố! Lâu lâu đột nhiên
    vắng bóng một người cùng học. Hỏi ra mới biết bị cho thôi học vì lý lịch có
    điểm mờ nào đó nhưng chẳng ai dám hỏi đến tận cùng! Có bạn tên Hiệp
    cùng học ở trường Nguyễn Trãi, là dân Ngũ Xã, bơi lội giỏi lắm. Ngày đoạt
    giải tòan quốc “Bơi vượt sông Hồng”, cu cậu đem tấm Huy chương vàng
    chóe tặng lại nhà trường trước sự hân hoan chào đón của hàng nghìn thầy
    trò. Ít lâu sau không thấy bạn đi học nữa, nghe đâu cũng vì lý lịch, rồi
    người ta chóng quên đi! Chẳng biết tấm huy chương vàng kia có còn lưu
    trong “Phòng truyền thống” để là niềm tự hào của nhà trường mà sẽ chẳng
    ai biết đến thân phận chủ nhân của nó!
    Thời ấy, từ người đại diện sinh viên của trường đến những người quản
    lý lớp, tổ đều do tổ chức chỉ định cả. Có ai vi phạm quy chế của nhà trường
    thì kỷ luật cũng khác nhau tùy theo đẳng cấp! Lúc đó bên Đông Âu đang
    lộn xộn, tiêu biểu là ở Hungari có Câu lạc bộ Pêtôphy ở thủ đô Budapest
    do giới trí thức làm đầu trò và sinh viên làm ngòi nổ, quậy lên tưng bừng,
    nên mọi sinh hoạt của thầy trò trong các trường Đại học nghiêm ngặt lắm.
    Thực sự lúc ấy tôi vẫn là cậu học trò khờ khạo. Thằng Tây thì chẳng
    mấy ai ưa nhưng dám đánh Tây mới thật là yêu nước. Bây giờ có Bác,
    Đảng đánh đuổi nó đi thì sao lại không tin? sao lại không yêu? Lòng mình
    https://thuviensach.vn

    nghĩ thế mà không thấy chung quanh người ta soi mói ai bạn ai thù, chỉ biết
    sống theo những gì gọi là chân-thiện-mỹ, không biết phải uốn lưỡi giữ
    mình, cứ nghĩ sao nói vậy nên dễ bị trù! Cái tội của mấy đứa xuất thân từ
    giới học trò thành phố là kém về ý thức tổ chức và phát ngôn thiếu ý thức
    chính trị, nên dễ bị xếp vào loại yếu kém quan điểm lập trường giai cấp!
    Dần dà tôi mới nhận ra là thân phận kẻ học nhờ, phải biết nghe lời chỉ bảo,
    giáo dục của Đảng, của Đoàn mà chẳng đâu xa, chính là những người ngồi
    chung ghế cùng nghe thầy giảng với mình! Các anh chi bộ, các bạn chi
    đoàn phân tích cho rằng làm thầy thuốc cũng phải có lập trường giai cấp.
    Trước một người bệnh cũng phải phân biệt rõ bạn thù. Dù không thầy nào
    giảng như thế cả nhưng chúng tôi cũng không biết hỏi ai. Về nhà thì cha
    thất thế lạc hậu rồi! Đến trường thì các thầy đang bị rang trong cái chảo lửa
    đấu tranh giai cấp nên chi cũng sợ trò! Giảng bài, lời nói hớ hênh, đều đến
    tai tổ chức nhà trường, các thầy khó tiến bộ. Có thầy bị điều chuyển đi
    không phải vì dạy kém! Để cho ra lò những sản phẩm đỏ thắm chuyên sâu,
    cần những người thợ lòchuyên sâu đỏ thắm… Những từ Chân-Thiện-Mỹ
    đã thành cổ ngữ!
    Không ít các anh bộ đội, cán bộ bước chân vào đại học, cái vốn văn
    hóa đa phần cấp một, giỏi lắm cũng chưa hết cấp hai, trước khi thi tuyển
    vào trường có được bổ túc văn hóa vài ba tháng, rồi cũng đậu! Một số học
    sinh thành phần cơ bản đang học cấp Ba cũng được đặc cách đưa lên Đại
    học. Khi kiểm tra học phần đều được điểm cao bởi chưng các thầy cũng sợ
    trò, trừ mấy ông thầy lớn đặc biệt thôi. Ra trường nhiều anh được giao lãnh
    đạo hoặc giữ lại giảng dạy các bộ môn, không ít anh được du học trở về với
    học vị và học hàm cao ngất nghểu. Câu kháo râm ran: “Việt Nam có chuyện
    lạ đời / Chưa hết lớp mười cũng được giáo sư!” nghe được chỉ để bụng
    thôi! Nền giáo dục đại học dễ dãi một thời khởi từ sự ban ơn phát lộc trong
    sự học hành đã đi đến hậu quả dù học thật mà ra bằng giả, rồi là học giả
    cũng cho bằng thật, khởi đầu từ một thời như thế!
    Cái danh “viên chức lưu dung” cứ như cục đá cột vào cổ cha, cột vào
    chân con không biết làm sao gỡ ra được. Cho đến lúc chết cha tôi vẫn đau

    https://thuviensach.vn

    lòng lắm vì cái thân phận “hàng thần lơ láo” không thể làm chỗ dựa để con
    phải long đong lận đận suốt đời!
    Sang năm thứ hai, đi thực tập bệnh viện, tình cờ tôi lại gặp anh đã là
    Bác sỹ cán bộ giảng Khoa Nhi của trường! Tính tôi vẫn nhút nhát lại thêm
    mặc cảm thành phần nên không dám mạnh dạn nhận người quen cũ. Tò mò
    biết anh là bộ đội chuyển ngành, là đảng viên, tôi càng linh lỉnh. Cán bộ
    giảng chỉ quan hệ với cán bộ lớp và tổ để nắm sinh viên thôi. Mỗi khi vô
    tình đối diện nhau, chỉ gật đầu chào qua lại. Có lần tôi đánh bạo hỏi anh đi
    bộ đội hồi nào, anh chỉ cười ý nhị. Cảm thấy anh kho khó thế nào, tôi lảng!
    Ra trường, những người mang thành phần như tôi cần rèn luyện thử
    thách nhiều họa chăng mới được thành con người mới! Tôi chẳng mấy
    buồn và muốn thử sức mình. Tiền nhân đã dạy: “Đường đi không khó mà
    khó vì lòng người ngại núi e sông”. Tôi ham đọc sách kim cổ đông tây,
    thích nghe những điều hay ý lạ và có chút máu lãng mạn phiêu lưu: Mỗi
    người trong xã hội cũng như các bộ phận của chiếc đồng hồ. Chỉ có người
    vô ích chứ không có công việc nào vô ích cả. Đừng hỏi Tổ quốc đãi ngộ thế
    nào, hãy hỏi mình phải làm gì cho Tổ quốc… Xã hội lúc đó đang cần
    những người như thế… Vui sao con đường đi đánh Mỹ / Như chảy hội mùa
    xuân ngàn năm có một lần… Đường Trường Sơn ào ào lá đỏ… Đi, ta đi
    giải phóng miền Nam / Khi quê hương còn bóng quân xâm lược thì ta còn
    chiến đấu quét sạch nó đi…
    Tôi vào đời lúc đất nước trong cảnh chiến tranh gay go, ác liệt, gian
    khổ và túng thiếu. Cũng như nhiều người, tôi đã vượt qua, không có gì để
    hãnh diện cũng không làm điều gì phải sượng với đời mặc dù tôi phải thể
    hiện quyết tâm tới ba lần mới được chọn đi “B”. Tôi đã cùng đồng đội hành
    quân dọc Trường Sơn hết gần nửa năm trời, thoát được những ổ biệt kích
    phục rình hoặc đổ dò bất chợt, những trận “bom giải thảm” hay “bom tọa
    độ” và những cơn sốt rét rừng tai quái… Tôi đã qua được những ngày gian
    truân sất bất sang bang ngay tại cửa ngõ Sài Gòn sau Tết Mậu Thân.
    Những ngày bị giặc bố càn, đồng đội thương vong tứ tán, giữa bưng Đồng
    Tháp Mười trống bốc, tôi nằm bất động, phủ mình dưới đám cỏ năn trong
    khi hàng đòan trực thăng quần đảo vừa bắn xuống như vãi đạn vừa kêu gọi
    https://thuviensach.vn

    chiến binh Việt cộng hãy chiêu hồi về với chính nghĩa quốc gia… Chỉ cần
    chút yếu lòng là sẽ bật đứng dậy, giơ tay lên, có trực thăng đỗ xuống liền và
    bốc đi ngay... Những nơi nào khó khăn ác liệt người ta giao việc cho tôi với
    lời động viên là vì tôi trẻ khỏe, quen với chiến trường! Tôi làm không vì lời
    biểu dương cửa miệng của ai, chỉ nghĩ rằng không thể sống hèn với cái triết
    lý tưởng như nhuốm màu mê tín: “Nếu định mệnh khắc lên trán ta cái ngày
    tận số thì ta cứ ung dung thanh thản mà đi”. Sau này nghĩ lại là nó khởi
    xuất từ câu nói của tướng Napoléon Bonaparte thấm vào tôi từ tuổi thiếu
    niên: “Mỗi người lính đều có một viên đạn dành riêng cho mình”!Khi viên
    đạn ấy rời khỏi nòng súng thì dù anh chạy lên trời hay chui xuống đất nó
    cũng tìm đến với anh! Tôi tin là ông-bà-cha-mẹ che chở tiếp sức cho tôi vì
    ngày tôi khóac ba lô chia tay gia đình đi B, cha tôi hỷ mũi liên hồi, lời căn
    dặn đứt ra từng khúc: “Các con không may sinh phải thời tao loạn. Đi vào
    nơi mũi tên hòn đạn, hèn thì người khinh, liều thì uổng mạng! Cậu mợ ở
    nhà dõi theo từng bước con đi. Cầu mong ông bà phù trợ cho con cháu
    chân cứng đá mềm qua được những chông gai nguy hiểm”!
    Tôi đón nhận hòa bình, trở về quê hương với tâm trạng quẳng gánh lo
    đi để vui sống. Nhưng tôi bị hụt hẫng ngay từ khi chiếc tàu biển Thống
    Nhất cặp bến Hải Phòng, trên toa xe lửa về lại Thủ đô chật như nêm kẻ
    đứng người ngồi, trên chiếc xích lô cũ nát, anh “tài” ngồi gếch chân lên
    càng xe nhìn ông khách lui cui lụi cụi sách từng cái túi vào nhà!
    Chúng tôi ra đi chấp nhận sinh Bắc tử Nam hoặc ở nơi xó rừng góc
    biển chân trời nào miễn là hy sinh cho Tổ quốc. Nhưng thóat chết trở về,
    được vào lại mái nhà xưa không dễ. Khi bước chân đi, chú công an mặt non
    choẹt đến đòi đưa quyển hộ khẩu, cầm cây bút xổ ngang một nét coi như
    mình mất gốc! Ngày trở về, may mà cha mẹ còn sống, ký chấp nhận cho
    con được nhập lại vào nhà, nếu không thì bơ vơ! Đại gia đình gom trong
    môt căn hộ mà mỗi gia đình nhỏ là một cái giường. Anh em “kiến giả nhất
    phận” cổ nhân dạy rồi! Những gì bị kìm nén lâu thành ức chế trước một
    tương lai vô định nảy ra nhiều cảnh đau lòng ngấm ngầm hoặc bộc phát ra
    từ không ít những ổ gia đình như thế!

    https://thuviensach.vn

    Chạy xin việc làm cũng vất vả cay đắng lắm! Lúc này xã hội đã có câu
    truyền khẩu: “Nhất thân–Nhì thế–Tam quyền–Tứ chế”. Tôi chỉ có một cái
    “chế” (chế độ, chính sách) do mình tự làm ra nhưng phải là gặp người tử tế.
    Tôi thật may gặp được những người tốt, vô tư giúp qua lúc khó và dù chẳng
    thể trả ơn nhưng suốt đời tôi không quên họ. Âu đó là cái phúc mà tôi được
    hưởng từ cái đức của tiền nhân. Vớt được chút tình yêu phải vật lộn mãi
    trong gian khó! Tôi tự bằng lòng với cái mình làm ra chẳng cần biết là to
    hay nhỏ mà trời không lấy lại và coi đó là hạnh phúc dù vẫn ghi tâm lời cổ
    nhân “cái quan nhận định”!
    Gánh lo vẫn triền miên trĩu nặng trên vai! Tôi chỉ kịp chôn cha! Được
    cho về hưu sớm giữa thời “bao cấp” với đủ lý do mà không thể giãi bày
    cùng ai, ông già mới ngòai sáu mươi đã tóc bạc như sương, hốc hác và còm
    cõi, vẫn phải thay con xếp hàng cả ngày không kể nắng mưa, làm cái việc
    tiêu thụ tem phiếu cho cả nhà được sống qua ngày và bán đi những bao
    thuốc điếu theo cái “bìa tiêu chuẩn” mà cha con đều không dám hút để phụ
    thu thêm. Đến lúc đổ xụp xuống, cả tháng trời nằm viện, cũng chẳng chẩn
    đoán ra rõ bệnh. Cha tôi thều thào đòi về được chết ở nhà mà chẳng giận ai,
    chẳng tiếc nuối điều gì. Chắc là ông cụ chết vì kiệt lực! Chiếc áo cuối cùng
    cho một viên chức hưu trí hiền lành, trung hậu, cả tin là chiếc hòm mộc bào
    sơ sài, phết lớp nước phẩm hồng lợt lạt. Để bít những đường nứt nẻ, anh em
    tôi phải lấy đất thó trát vào và bồi thêm một lớp giấy báo quét lên màu
    phẩm hồng thật đậm! Đám tang cha tôi đi trong buổi sớm thu mưa lạnh tái
    tê, những người tiễn đưa tan tác! Mấy chục năm đã qua, nghĩ đến cha tôi
    vẫn thấy xót xa ai oán và nhớ mãi lời cha thủ thỉ tâm tình lúc tôi đã thành
    thân: “Sống vào thời buổi nhiễu nhương thì thần
    phật cũng hết thiêng. Đi
    theo ai chỉ vì miếng cơm manh áo chỉ là phường giá áo túi cơm. Nhưng
    theo điều thiện lắm lúc cũng mơ hồ mà còn chịu điều oan trái”. Trời cho
    con hưởng lộc hơn cha, nay đã ở tuổi “cổ lai hy” mà xem ra trời chưa đòi
    lộc. Chợt lúc nghĩ đến cha lòng vẫn xót xa thân phận một đời người: “Cha
    ơi, cha mất lâu rồi / Mà con vẫn nặng nỗi niềm thương cha”!
    Năm 1979, tôi lại bị chòang lên người mảnh chiến y những tưởng
    được đoạn tuyệt với nó rồi trong khi không ít người đồng lứa hoặc sau tôi
    https://thuviensach.vn

    cứ ung dung hưởng lộc! Một hôm ngồi trên đỉnh đồi hướng về phía trời xa,
    nỗi thương vợ nhớ con day dứt. Tôi hút liền mấy điếu Tam Đảo. Tàn thuốc
    bỏng tay làm tôi sực tỉnh. Nhớ lại ngày còn ở trong Nam, lính ta mê nhất
    thuốc CAPSTAN chiến lợi phẩm mỗi khi đánh Mỹ. Từ những mẫu tự đó,
    lính miền Đông tán gẫu thành hai câu thơ xuôi ngược dí dỏm: Chiếc
    Áo Phong Sương Trao Ai Nhận? Nhận Áo Thư Sinh Phụ Áo Chàng! Chiếc
    áo thư sinh với tôi đã không thể mặc từ lâu rồi vì ngày càng chật chội
    nhưng Chiếc ao phong sương rộng thùng thình lúc nào chòang lên cũng
    được. Có khác chi kẻ bị phụ tình! Tôi chợt nhận ra sự vô cảm của cộng
    đồng và sự dối trá sau những mỹ từ ở đâu cũng bị nghe nhàm chán. Lại gần
    một thập niên trôi qua, tôi mới rũ bỏ được t...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI TÂN - TP. HẢI PHÒNG !