Lịch sử ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.Chào mừng quý vị đến với Website của Thư viện trường Tiểu học Hải Tân, thành phố Hải Phòng!
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Hà Nội bể dâu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thu
Ngày gửi: 15h:15' 20-07-2025
Dung lượng: 1'000.7 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thu
Ngày gửi: 15h:15' 20-07-2025
Dung lượng: 1'000.7 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
HÀ NỘI BỂ DÂU
Tác giả: Nguyễn Văn Thịnh
Truyện ký
Ebook: Cuibap
Nguồn text: nguyenvanthinh4065.com
https://thuviensach.vn
Lời Tác Giả
Thưa bạn đọc:
Bởi tôi nghĩ hồi ký chỉ dành cho những nhân vật tầm cỡ hoặc chí ít
cũng lưu lại dấu ấn trong đời sống cộng đồng. Tôi không có được cái hân
hạnh ấy, chỉ nghĩ mình như một con cá trong bầy cá tung tăng bơi lượn theo
dòng chảy lịch sử. Nếu không có bầy cá thì một con cá chẳng là chi. Nhưng
một con cá trong bầy cá ngược xuôi ngang dọc nổi chìm khiến người ta
nhận ra dòng chảy kia mạnh, nhẹ, xoáy, yên để bày cá lúc chụm lại, lúc tản
ra, con mất con còn và cuối cùng tan biến vào biển cả mênh mông.
Đó là những chương ký sự riêng chung lẫn lộn của thời niên thiếu hồn
nhiên và thời thanh niên đầy biến động với những thân phận con người
trước cuộc đời dâu bể.
Tự bach:
Bác sỹ Nguyễn Văn Thịnh, sinh năm 1940 tại Hà Nội, hội viên Hội
Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1966 tham gia kháng chiến chống
Mỹ ở chiến trường Nam Bộ và tiếp sau là cuộc chiến bảo vệ biên cương ở
hai đầu đất nước. Năm 1997, mấy truyện ngắn đầu tay được đăng trên Tuần
báo văn nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam, tiếp sau viết nhiều thể loại: Tiểu
thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kịch, thơ, phê bình, tiểu luận. Có tác phẩm
được giải thưởng của Trung ương và Thành phố, nhiều bài đăng trên các
báo, trang mạng sạch trong và ngoài nước, được dư luận quan tâm.
Cầu mong dân nước yên ổn , thanh bình, xã hội tiến bộ, văn minh,
người người sống trong hòa ái.
(Nguyễn Văn Thịnh)
Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
https://thuviensach.vn
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú qúy cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự phù trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh
(Trăng xưa soi thành phố mới
Thăng Long – Hà Nội cố đô
Phố phường đường xưa lạc lối
Rập rình điệu nhạc lạ tai
Bon chen ngàn năm phú qúy
Người thân nửa mất nửa còn
Than chi sự đời chìm nổi
Trên đầu tóc trắng như mây)
NGUYỄN DU
https://thuviensach.vn
1
Người Hà Nội
Những tình cảm nơi học đường sáng lạn
Quên làm sao tuy dĩ vãng xa xôi
Vì đó là những kỷ niệm của thời
Thời cắp sách – thời vô ngần trong sạch
Lâm Sỹ Ngọc
Năm 1952, vừa 12 tuổi, tôi theo học lớp đầu Đệ nhị cấp (từ Đệ thất
đến Đệ tứ – nay là trung học cơ sở), nhìn những anh hệ Đệ nhất cấp (từ Đệ
tam đến Đệ nhất – nay là trung học phổ thông) lớp trên với con mắt cảm
phục kính trọng lắm. Hệ công lập Hà Nội sau ngày quân Pháp tái chiếm lúc
đầu chỉ có Trường Lycée Albert Sarraut ở phía trước dinh Toàn quyền dành
cho lũ con tây và con viên chức lớn hoặc nhà giàu người Việt và Trường
Chu Văn An quen gọi là Trường Bảo hộ (École protecteural) hay là trường
Bưởi, bị Pháp chiếm làm trại lính nên phải dời về Hàng Cót, rồi xuống
Hàng Bài, con trai con gái học chung. Trường Hàng Bài xưa là Trường Gia
Long dành cho con gái, năm 1950 mới tách ra: Trường nữ học Trưng
Vương sang đường Hai Bà Trưng gần Nhà hát lớn, lúc đầu chỉ có hệ Đệ nhị
cấp; Trường Nguyễn Trãi ở lại phố Hàng Bài; Trường Chu Văn An lên Cửa
Bắc (Trường Cao đẳng sư phạm = École normale), sau hòa bình 1954 mới
về lại điểm cũ bên Tây hồ.
So với bây giờ, đường xá xe cộ của Thủ đô thời ấy cũng chỉ như một
phố huyện thôi. Đa phần học sinh và không ít thầy giáo đến trường đều đi
bộ. Học sinh đi xe đạp thời đó ít hơn cả số học sinh đi xe @bây giờ nhiều.
Dù nhà giàu cũng chỉ cho con đi xe xích lô (cyclo) chứ không dám cho con
https://thuviensach.vn
đi xe đạp vì sợ cái họa tai nạn lưu thông! Xe ô tô dân sự lơ thơ nhưng xe
nhà binh thì nhiều. Giữa phố phường mà chúng phóng bạt mạng. Thằng lái
xe cần gì có bằng lái, cần gì sợ có hơi men. Men càng nồng tay càng vô tư
cẩu thả với cái vô lăng, bất cần đời. Lính mới ở chiến trường hút chết trở
về, lính ngày mai bị đưa ra trận mạc, tha hồ túy lúy càn khôn! Tay lái xe,
tay cua gái, cười hô hố, thét the thé, khóc hu hu… mặc sức như chỗ không
người! Xe nhà binh cán chết người, chết vật vô tội vạ! Thậm chí chúng còn
cố tình gây ra tai nạn để được bỏ tù còn hơn là bỏ xác ngòai chiến trận!
Học sinh đi xe đạp thường là ở lớp trên và nhiều anh cũng bạo phổi to
gan ngang tàng lắm.
Nhà anh ở phố Hàng Đào. Nhà tôi ở phố Hàng Bè. Cùng đi về mãi
trên một con đường, quen mặt biết là cùng trường lớp trên lớp dưới. Một
hôm tôi đang cắp cặp vội vã nửa đi nửa chạy trên hè vì sợ muộn giờ. Bỗng
có tiếng gọi to sát ngay bên:
- Ê… Nhóc!
Tôi quay ra. Xe anh đỗ sát lề hè. Miệng cười thân thiện, hất hàm gọi
tôi:
- Lên đây đi!
Dù bẽn lẽn nhưng cũng không thể chối từ sự giúp đỡ của một anh lớp
trên trong trường hợp ấy. Tôi ngồi nghiêng trên đòn ngang khung xe. Anh
ngoáy chân đạp vù vù.
Chúng tôi từ biết mặt đến quen nhau từ đấy.
Anh thường chở tôi đi về mỗi khi anh em gặp nhau trên đường.
Khi một chiếc xe nhà binh nhâng nháo phóng ào qua, anh dạt xe sát lề
đường chửi:
- Đồ chó đểu!
- Mũ đen (biệt kích), mũ đỏ (nhảy dù) thằng nào đểu hơn? – Tôi hỏi.
- Thằng nào cũng đểu!
Có lần anh hỏi dò tôi:
- Nhóc có thích đi lính không?
- Em chưa lo – Và tôi hỏi lại:
- Đỗ tú tài anh có thích đi sỹ quan không?
https://thuviensach.vn
- Nhóc thích commando (biệt kích) hay parachute (nhảy dù)? – Chắc
anh thử tôi.
- Em không thích đánh nhau!
Có lần anh đèo tôi về tận nhà và vào chơi. Mẹ tôi mừng lắm nói:
- Em nó còn nhỏ dại, nhờ các anh lớp trên bảo ban cho!
Dường như anh cảm mến tôi và tôi cũng qúy anh.
Đầu năm học mới, một hôm vào lúc tan trường, tôi vừa đi ngang tới
dấu viên đạn canon ngày xưa tàu chiến Pháp đậu ngòai sông Cái bắn thẳng
vào cửa Bắc thành thì có một chiếc ô tô TRACTION –15 trờ sát tới, tôi
nhảy vội lên vỉa hè cũng vừa lúc xe dừng lại và anh mở cửa xe thò đầu ra
tay vẫy:
- Lên đây mau!
Xe vừa chạy anh cười khoái trá khoe với tôi ngay:
- Phần thưởng đậu tú tài của bố mẹ anh đây! Hôm nay chia vui với
nhóc tỷ một chầu.
Anh lái xe chạy khắp các phố, vòng quanh Bờ Hồ rồi đãi tôi một chầu
kem Hồng Vân. Anh cho biết đang học lớp Dự bị đại học P.C.B.
(Physic=Lý; Chimie=Hóa; Biologie=Sinh). Tôi nghĩ bụng nhà anh có cửa
hàng buôn bán tơ lụa lớn thế thì giàu lắm. Tôi mà đậu tú tài thì phần thưởng
là chiếc xe đạp PEUGEOT đã luých (lux) lắm rồi!
Từ đó tôi không gặp anh nữa.
Nhiều lần qua phố, nhìn vào cửa hàng nhà anh, tôi chỉ thấy tíu tít
người ta ra vào mua bán. Tôi vốn nhát, vả anh có phải là bạn đâu? Chỉ
mong thấy bóng anh là tôi sẽ chạy tới liền. Tuy nhiên cái dáng lưng cong
cong, hai tay khuỳnh khuỳnh, ngồi trên chiếc xe đạp STERLING có cái yên
cao vổng lên, nét mặt linh lỉnh khinh đời, miệng huýt sáo gió, hai chân
phóng tít thò lò cứ ấn tượng trong lòng tôi mãi.
Ngày tháng qua đi mà cái cảnh thanh niên học sinh trốn lính diễn ra
thường lắm. Có lần cảnh binh với lính ập vào trường, xông vào từng lớp bắt
người. Nhiều anh lớn nháo nhác chạy vòng quanh, có anh nhanh chân
phóng ào qua cửa sổ vượt bờ tường lủi biến đi. Tuy nhiên lần nào cũng có
https://thuviensach.vn
người bị tóm cổ lôi xềnh xệch ra sân trường, tống lên xe cam nhông
(camion) phóng đi mất hút.
May mà tôi chưa kịp lớn để phải chịu chung cảnh ấy thì có Hiệp định
hòa bình. Đám nhỏ chúng tôi háo hức lắm. Cái lo của cha mẹ mãi sau này
lớn lên tôi mới hiểu và thương mà cũng chẳng giúp được gì. Cha tôi đã ký
hợp đồng ở sở làm, lĩnh trước ba tháng lương để đưa cả nhà vào Nam.
Nhưng sau nghĩ dại gì bỏ đi bơ vơ xứ người xa lạ, biết bao giờ về lại quê
hương? Chi bằng ở lại với chính phủ Cụ Hồ, nước nhà độc lập, sống yên
tâm cho các con hơn. Chúng tôi không thể nào quên những ngày tản cư:
chạy càn, máy bay ném bom, obus (trái phá) rít trên đầu, nhà cháy, người
chết giữa đường, học với mấy bạn lớn bé chung một lớp do cha tôi dạy tại
nhà ở nhờ dân, năm lần bảy lượt bỏ giữa chừng vì làng mạc bị giặc càn tới
đốt phá, gia đình đành phải hồi cư mà lúc đó bà con quen gọi là “dinh tê”
(entrée) vào thành. Những ngày chờ “móc” người đưa đường, gia đình tôi
trú tạm một căn nhà vô chủ tại Đầm Đa, Ninh Bình. Ở đây có mấy anh
thanh niên tuổi đôi mươi chán chường thế cuộc, dùng dằng nửa ở nửa về.
Ban đêm các anh ra vùng giáp ranh tề-ta buôn lậu những hàng thuốc tây,
bút máy, đồng hồ, mũ nồi, áo len, khăn ấm… Có khi bị du kích truy đuổi,
chạy thục mạng, bỏ của giữ lấy người! Ban ngày thì ngủ vùi hoặc đánh cờ
và thường nghêu ngao dấm dứt bài thơ:“Thôi thế từ nay là dứt tình / Vấn
vương gì nữa nợ đao binh / Muốn học người xưa làm ẩn sỹ / Vách núi đề
thơ với một mình / Còn đấy ai đi thì mặc ai / Mặc ai, ai đó áo chưa phai /
Mình về mình biết mình thôi nhỉ / Tiếc gì tơi tả áo cầu vai / Mới ngòai hai
mươi mùa xuân thôi / Mà thấy hình như tóc bạc rồi / Bụi bậm đua chen là
thế đấy / Hay gì người hỡi, hỡi ta ơi! / Bút đã từng phen làm gió mưa /
Từng lui giặc nước một lời thơ / Cũng thôi, tàn mộng bình thiên hạ / Sự
nghiệp ơ hờ cơn gió đưa / Nghề súng thua gì ai nữa đâu / Từng thét ba
quân trận thắng đầu / Cũng không mơ nữa làm nguyên soái / Nấm mồ
chiến tướng biết nông sâu? / U ẩn hằn lên vầng trán cao / Hết Chiến khu
Ba sang đất Lào / Rồi lại quay về mơ Việt Bắc / Đi mãi đi hoài, đi đến đâu?
/ Đi mãi để mà đi đến đâu / Có dễ mà đi đến bạc đầu / Vẫn ở lưng chừng
đường lỡ dở / Mà nhìn kẻ trước ngắm người sau / Đã chót đầu thai phận
https://thuviensach.vn
lỗi thời / Thì dù đi mãi cũng là thôi / Tìm môt cô thôn mà ẩn giật / Lại đẹp
lung linh một góc trời / Mình biết thương mình, mình về thôi / Còn bao
thằng nữa nhớ thương ôi! / Từng đêm dằng dặc buồn không ngủ / Đốm lửa
đầu tay đã tắt rồi / Chẳng học ai xưa làm hàng thần / Đẹp gì Từ Hải lúc sa
chân? / Thà như Từ Thứ trong rừng vắng / Danh lợi bao nhiêu cũng chẳng
cần / Rồi đến khi nào tóc bạc phơ / Đời đã quên người trai thuở xưa /
Chẳng làm thi bá, không danh tướng / Vuốt bộ râu tiên đánh ván cờ”!Cái
tuổi lên mười thơ dễ nhập tâm và âm ỉ nhớ dai. Thời chống Mỹ đó là loại
thơ chiêu hồi, tôi bẵng quên đi. Đến độ “vuốt râu đánh cờ” chợt lúc bật ra
từng khúc, chắp lại và thấy thương quá một lớp người!
Ngày 10 tháng 10 năm 1954, tôi trong dòng người đứng dọc Chợ
Hôm–Đức Viên–Phố Huế hớn hở đón các anh bộ đội từ phía Chợ Mới Mơ
tiến về cùng hát chung bài ca: Trùng trùng say trong câu hát / Lớp lớp đoàn
quân tiến về / Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng… Bao nhiêu là
hoa, bao nhiêu là người hò hát, gào thét khản cả cổ, vừa cười vừa khóc vui
sướng tưng bừng.
Cuộc đời dâu bể, lúc đó thằng bé 14 tuổi là tôi chẳng thể nghĩ rằng 21
năm sau nó lại từ rừng miền Đông ngồi trên đoàn xe giải phóng băng băng
trên những con đường nhựa thênh thang tiến về thành phố Sài Gòn. Điều
tôi sớm nhận ra là không như người Hà Nội thời niên thiếu của tôi, sự đi
hay ở mỗi người có thời gian 300 ngày lựa chọn. Bây giờ, người Sài Gòn
đa phần còn ngơ ngác bàng hoàng với “biến cổ trời sập” vừa diễn ra đây!
Qua nỗi sợ lúc đầu, có vui chỉ là vui gượng vì chưa biết hậu sự sẽ ra sao:
lấy gì để ăn và làm gì để sống? Chỉ sau mấy ngày, chợ trời đã mọc ra nhan
nhản trên các con đường ở trung tâm thành phố. La liệt áo quần bốn mùa đủ
mầu lòe loẹt, đồ gia dụng, đồ điện tử, nhiều thứ lạ chưa từng thấy! Người
mua chủ yếu từ hậu phương lớn mới vào. Đám ở rừng về chỉ đi “chợ ngó”!
Giữa tháng năm các tỉnh phía Nam mở hội mừng ngày thống nhất. Lời bố
cáo từ Chính phủ trung ương: “Đây là đại thắng lợi cùa toàn dân tộc Việt
Nam, không phân biệt Bắc-Nam, bên này bên nọ; kẻ thua là những thế lực
xâm lược và bọn người coi rẻ quyền lợi của quốc gia dân tộc”! Người nghe
chẳng thể biết ai là người thấy nặng, nhẹ trong lòng. Tôi thở phào đã thoát
https://thuviensach.vn
chết chẳng lưu luyến gì trở về quê hương với bao nhiêu hy vọng được sự bù
đắp của gia đình và xã hội.
Nhớ lại ngày đầu năm 1955 cả Thủ đô mừng đón Chính phủ kháng
chiến trở về. Lũ trẻ chúng tôi như muốn bay lên dưới tay Bác Hồ cầm chiếc
“mũ cát” nhịp cho cả ngàn vạn người cùng hát vang lên. Lần đầu tiên người
Hà Nội cùng nhìn về một hướng hát chung một bài ca: Kết đoàn chúng ta
là sức mạnh / Kết đoàn chúng ta là thép gang / Đoàn kết ta bền vững… còn
hơn cả thép gang! Lời ca gây niềm tin mới. Một buổi sáng, chưa tới giờ ra
chơi mà trống đánh thúc dồn dập khác thường. Thầy giám thị nhắc nhở các
lớp mau xuống sân trường. Ông Tổng Trọng (Tổng giám thị) hối thúc các
lớp mau xuống sân trường, mời các thầy cô giáo đứng trước chân cột cờ và
bảo học trò xếp hàng nghiêm chỉnh. Chúng tôi nghển cổ chờ xem có
chuyện lạ gì. Tôi len lỏi tới chân bậc tam cấp. Một đoàn người từ Phòng
Hội đồng lố nhố đi ra. Thầy giám học Đào Văn Khánh bước nhanh lên
trước, ra hiệu cho học trò im lặng. Thầy Hiệu trưởng Đào Văn Trinh phong
cách đĩnh đạc, trịnh trọng, chậm rãi giới thiệu Bác Hồ đến thăm trường…
Lần đầu trong đời, lũ trẻ chúng tôi được tận mắt nhìn thấy Bác. Ông cụ
hiền từ, giản dị, đôi mắt sáng tinh anh, giơ tay xua xua để các cháu hạ cơn
phấn chấn. Bác nói đại ý: Mấy năm qua, Bác và Chính phủ phải dời lên
chiến khu lãnh đạo kháng chiến. Vừa trở về Thủ đô được ít ngày, hôm nay
Bác tới thăm trường. Trước hết thay mặt Chính phủ Bác xin lỗi vì để các
cháu bấy lâu phải sống trong vùng giặc tạm chiếm. Bây giờ nửa nước ta
được giải phóng rồi thì các cháu phải chăm chỉ học hành và siêng năng
giúp đỡ cha mẹ trong công việc hàng ngày để sau này thành người lao động
có văn hóa phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân; thầy trò phải đoàn kết cùng
tòan dân xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, mọi người
được ấm no, sung sướng, các cháu nhỏ đều được học hành. Bác nói ngắn
thôi rồi ra về. Cả đoàn gần chục người đi có một chiếc xe con và một chiếc
xe zeep cũ. Những lời dạy của Bác lúc ấy thật mới lạ. Nghe tôi kể lại, cả
nhà ai cũng rưng rưng trước tấm lòng nhân ái quảng đại của Cụ Hồ. Về sau,
thuận dịp nào vui tôi buột kể chuyện này thì không mấy ai tin, có người cho
rằng tôi bày đặt chuyện ra có ẩn ý gì! Cả dân tộc này đều phải nhớ ơn vị
https://thuviensach.vn
“cha già dân tộc” chớ sao có sự ngược đời! Tôi ấm ức mãi trong lòng. Sau
tình cờ đọc mấy câu thơ của Chế Lan Viên: “Quanh Hồ Gươm không ai
bàn chuyện vua Lê / Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ / Hiểu sao hết
được tấm lòng lãnh tụ / Tìm đường đi cho dân tộc đi theo”, tôi mới thấm
cái tình đời.
Chúng tôi vẫn được học hành, được vào Đội thiếu niên quàng khăn
đỏ, được nhảy múa những điệu mới lạ: mí đồ đồ đồ phá mí rê / rê đô sì đô
rế sòn sòn… hoặc là: sol sol sol đố sol / sol sol sol đố rê / rê rê rê mí sì
rê… nhộn lắm, được hát hò ca ngợi Bác, Đảng, các anh bộ đội và lao động
vinh quang, được học tập giác ngộ thế nào là giai cấp phản động và tiến bộ,
là xã hội chủ nghĩa ưu việt – không người bóc lột người, tiến tới xã hội
cộng sản “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” và mơ ước được như
Liên Xô – thiên đường hạ giới… Chúng tôi tin đang được sống trong một
xã hội tốt đẹp nhất của lòai người mà “người lao động làm ông chủ”, giới
quan quyền xưa đã bị lịch sử chôn vùi, thay vì là những “cán bộ như người
đầy tớ trung thành tận tụy”. Tương lai thanh niên nam nữ sẽ như những
ông hòang bà chúa. Bấy giờ mới vỡ ra rằng cái khu biệt thự tây kín cổng
cao tường kia là hang ổ của những tên thực dân đầu sỏ và bọn Việt gian
trùm sò! Cái trường tây mang tên một thằng thực dân chóp bu chuyên đào
tạo ra những kẻ tay sai mẫu quốc nói tiếng tây thạo hơn tiếng mẹ đẻ, nay là
cơ quan đầu não của Nhà nước nhân dân kiểu mới!
Hai năm sau ngày giải phóng, chúng tôi được học theo hệ phổ thông
10 năm, nói là theo chương trình của Liên Xô. Thì biết vậy! Trước kia Tiểu
học cho hệ điểm 10, Trung học cho hệ điểm 20, nay theo Liên xô cho hệ
điểm 5, được thầy giải thích là gọn mà chuẩn. Chúng tôi bảo nhau: 5 hay 10
cũng thế thôi – Dù 20 cũng chẳng khác gì!
Khi Đoàn thanh niên thành phố phát động trong giới học sinh – sinh
viên dấy lên phong trào Bài trừ văn hóa nô dịch, những sách cũ tây-tàu-ta
bất luận đều gom lại đốt đi hoặc đem nghiền thành bột giấy! Ông thầy dạy
nhạc Vũ Nhân thay thầy Thẩm Oánh đi Nam, sáng tác hưởng ứng một bài
phổ ra cả trường đều hát: “Thi đua bài trừ văn hóa nô dịch chúng ta nêu
cao gương đấu tranh tòan dân… Đốt phá cho bằng hết văn hóa suy đồi từ
https://thuviensach.vn
bao lâu lũ đế quốc xâm lăng reo rắc sầu”… Thế mà ít lâu sau vắng bóng
thầy. Nghe tin thầy bị bắt đem đi đâu! Thầy nguyên là trung úy quân đội
quốc gia thì ai cũng biết nhưng không ai được biết thầy đã làm việc gì
phạm pháp? Chẳng biết có bị đưa ra trước tòa xét xử hay không nhưng sau
này nghe đâu thầy bị ngồi tù hơn chục năm mới được tha. Về nhà, nhờ thạo
mấy nốt sol-đố-mì-la cuối đời làm nghề dạy nhạc kiếm ăn nhẹ nhàng. Thầy
Lại Cang dạy Văn tôi gần suốt cả thời trung học. Thi tốt nghiệp trường Đại
học sư phạm đúng vào năm 1954, nhận giấy công vụ vào Huế dạy trường
Quốc học nhưng thầy ở lại nhận sự phân công của chính phủ kháng chiến
vừa về tiếp quản Thủ đô. Tuy nhiên đám học sinh đệ nhị cấp (cấp hai)
nhiều trường tư thục biết tiếng từ khi thầy còn là sinh viên đi “bán cháo
phổi”. Thầy đa tài, có ba bằng: Cử nhân Văn chương, Sử học và Triết học.
Ngòai ra thầy cũng giỏi cả Tóan học, Anh ngữ, Pháp ngữ và Hán ngữ. Thầy
viết nhiều sách khảo cứu văn học cổ điển rất công phu. Thầy kể khi viết về
Nguyễn Bỉnh Khiêm phải đọc cả triết học Trung hoa và Ấn Độ. Dáng dong
dỏng, da ngăm ngăm, tóc hớt cao, đôi mắt lim dim mơ màng sau tròng kính
cận dày cộp, mặc xuềnh xòang nhưng thầy giảng cuốn hút làm sao. Văn
học cổ điển, văn học lãng mạn ta tây, thầy truyền cái say sang trò. Có lần
thầy nói: Giữa giảng văn, bình văn, tán văn ranh giới rất mơ hồ. Làm sao
truyền được cảm hứng văn chương nghệ thuật cho người nghe mới là điều
cốt yếu. Tôi đến với văn chương khởi nguồn cũng từ những giờ giảng ấy.
Sau này, nghe về cái chết của thầy sao mà oan trái! Con người đa tài mà bất
lực trước thời thế. Trí lớn ngày một mỏi mòn dễ sinh ra trạng thái tâm thần
bất định! Tôi nhớ buổi giảng về Annakarênina, nét mặt thầy u ám. Cái tai to
buông thõng xuống của người chồng quan là nỗi ám ảnh suốt đời nàng tới
mức không chịu nổi! Và cái chết của người đàn bà đa đoan ấy có là tiền
định với thầy?
Tuy nhiên chúng tôi vẫn vui vẻ nhởn nhơ, không để ý tới những mối
lo toan phấp phỏng của cha mẹ do cuộc sống ngày càng khó khăn thắt ngặt
hơn. Những lần đi qua phố Hàng Đào, tôi để ý cái bảng hiệu nhà anh cùng
mấy lời chào: “Hàng tơ lụa – Bán buôn – Bán lẻ”
đã thay bằng cái bảng to
tướng bề thế lắm đề: “Công ty bông vải sợi quốc doanh” mà chẳng thấy
https://thuviensach.vn
hàng gì là bông, vải, sợi. Rồi sau lại thấy trưng ra mấy cái quầy bày lỏng
chỏng lơ chơ những đồng hồ cũ, kính và bút máy với một tấm bảng nhỏ
viết tay: “Máy khắc chữ”. Có lần tôi ghé vào thử khắc lên cây bút chữ Thân
tặng… để kỷ niệm một người bạn gái, nhân thể tò mò nhìn sâu vào trong thì
cảm giác như ngôi nhà nhiều chủ.
Đến khi bước chân vào trường Đại học tôi chỉ được tiếp quản cái xe
đạp cà tàng của bố và chợt nhận ra mình không là thành phần đáng tin của
xã hội mới này! Ông cán bộ tuyên huấn nói toạc móng heo: Đây là nhà
trường của công nông thì con em công nông làm chủ. Các thành phần khác
mới đúng là được ưu tiên! Xã hội đã phân chia giai cấp rồi mà trong trường
học còn chia ra nhiều đẳng cấp. Nhất hạng là các anh bộ đội và cán bộ.
Thượng thặng là những đảng viên. Thứ đến là con em liệt sỹ, miền Nam,
miền núi, công nông, lao động. Hạng bét là thành phần tạp nham dễ lung
lay chao đảo, chỉ lơ thơ mấy đứa coi như là chiếu cố! Lâu lâu đột nhiên
vắng bóng một người cùng học. Hỏi ra mới biết bị cho thôi học vì lý lịch có
điểm mờ nào đó nhưng chẳng ai dám hỏi đến tận cùng! Có bạn tên Hiệp
cùng học ở trường Nguyễn Trãi, là dân Ngũ Xã, bơi lội giỏi lắm. Ngày đoạt
giải tòan quốc “Bơi vượt sông Hồng”, cu cậu đem tấm Huy chương vàng
chóe tặng lại nhà trường trước sự hân hoan chào đón của hàng nghìn thầy
trò. Ít lâu sau không thấy bạn đi học nữa, nghe đâu cũng vì lý lịch, rồi
người ta chóng quên đi! Chẳng biết tấm huy chương vàng kia có còn lưu
trong “Phòng truyền thống” để là niềm tự hào của nhà trường mà sẽ chẳng
ai biết đến thân phận chủ nhân của nó!
Thời ấy, từ người đại diện sinh viên của trường đến những người quản
lý lớp, tổ đều do tổ chức chỉ định cả. Có ai vi phạm quy chế của nhà trường
thì kỷ luật cũng khác nhau tùy theo đẳng cấp! Lúc đó bên Đông Âu đang
lộn xộn, tiêu biểu là ở Hungari có Câu lạc bộ Pêtôphy ở thủ đô Budapest
do giới trí thức làm đầu trò và sinh viên làm ngòi nổ, quậy lên tưng bừng,
nên mọi sinh hoạt của thầy trò trong các trường Đại học nghiêm ngặt lắm.
Thực sự lúc ấy tôi vẫn là cậu học trò khờ khạo. Thằng Tây thì chẳng
mấy ai ưa nhưng dám đánh Tây mới thật là yêu nước. Bây giờ có Bác,
Đảng đánh đuổi nó đi thì sao lại không tin? sao lại không yêu? Lòng mình
https://thuviensach.vn
nghĩ thế mà không thấy chung quanh người ta soi mói ai bạn ai thù, chỉ biết
sống theo những gì gọi là chân-thiện-mỹ, không biết phải uốn lưỡi giữ
mình, cứ nghĩ sao nói vậy nên dễ bị trù! Cái tội của mấy đứa xuất thân từ
giới học trò thành phố là kém về ý thức tổ chức và phát ngôn thiếu ý thức
chính trị, nên dễ bị xếp vào loại yếu kém quan điểm lập trường giai cấp!
Dần dà tôi mới nhận ra là thân phận kẻ học nhờ, phải biết nghe lời chỉ bảo,
giáo dục của Đảng, của Đoàn mà chẳng đâu xa, chính là những người ngồi
chung ghế cùng nghe thầy giảng với mình! Các anh chi bộ, các bạn chi
đoàn phân tích cho rằng làm thầy thuốc cũng phải có lập trường giai cấp.
Trước một người bệnh cũng phải phân biệt rõ bạn thù. Dù không thầy nào
giảng như thế cả nhưng chúng tôi cũng không biết hỏi ai. Về nhà thì cha
thất thế lạc hậu rồi! Đến trường thì các thầy đang bị rang trong cái chảo lửa
đấu tranh giai cấp nên chi cũng sợ trò! Giảng bài, lời nói hớ hênh, đều đến
tai tổ chức nhà trường, các thầy khó tiến bộ. Có thầy bị điều chuyển đi
không phải vì dạy kém! Để cho ra lò những sản phẩm đỏ thắm chuyên sâu,
cần những người thợ lòchuyên sâu đỏ thắm… Những từ Chân-Thiện-Mỹ
đã thành cổ ngữ!
Không ít các anh bộ đội, cán bộ bước chân vào đại học, cái vốn văn
hóa đa phần cấp một, giỏi lắm cũng chưa hết cấp hai, trước khi thi tuyển
vào trường có được bổ túc văn hóa vài ba tháng, rồi cũng đậu! Một số học
sinh thành phần cơ bản đang học cấp Ba cũng được đặc cách đưa lên Đại
học. Khi kiểm tra học phần đều được điểm cao bởi chưng các thầy cũng sợ
trò, trừ mấy ông thầy lớn đặc biệt thôi. Ra trường nhiều anh được giao lãnh
đạo hoặc giữ lại giảng dạy các bộ môn, không ít anh được du học trở về với
học vị và học hàm cao ngất nghểu. Câu kháo râm ran: “Việt Nam có chuyện
lạ đời / Chưa hết lớp mười cũng được giáo sư!” nghe được chỉ để bụng
thôi! Nền giáo dục đại học dễ dãi một thời khởi từ sự ban ơn phát lộc trong
sự học hành đã đi đến hậu quả dù học thật mà ra bằng giả, rồi là học giả
cũng cho bằng thật, khởi đầu từ một thời như thế!
Cái danh “viên chức lưu dung” cứ như cục đá cột vào cổ cha, cột vào
chân con không biết làm sao gỡ ra được. Cho đến lúc chết cha tôi vẫn đau
https://thuviensach.vn
lòng lắm vì cái thân phận “hàng thần lơ láo” không thể làm chỗ dựa để con
phải long đong lận đận suốt đời!
Sang năm thứ hai, đi thực tập bệnh viện, tình cờ tôi lại gặp anh đã là
Bác sỹ cán bộ giảng Khoa Nhi của trường! Tính tôi vẫn nhút nhát lại thêm
mặc cảm thành phần nên không dám mạnh dạn nhận người quen cũ. Tò mò
biết anh là bộ đội chuyển ngành, là đảng viên, tôi càng linh lỉnh. Cán bộ
giảng chỉ quan hệ với cán bộ lớp và tổ để nắm sinh viên thôi. Mỗi khi vô
tình đối diện nhau, chỉ gật đầu chào qua lại. Có lần tôi đánh bạo hỏi anh đi
bộ đội hồi nào, anh chỉ cười ý nhị. Cảm thấy anh kho khó thế nào, tôi lảng!
Ra trường, những người mang thành phần như tôi cần rèn luyện thử
thách nhiều họa chăng mới được thành con người mới! Tôi chẳng mấy
buồn và muốn thử sức mình. Tiền nhân đã dạy: “Đường đi không khó mà
khó vì lòng người ngại núi e sông”. Tôi ham đọc sách kim cổ đông tây,
thích nghe những điều hay ý lạ và có chút máu lãng mạn phiêu lưu: Mỗi
người trong xã hội cũng như các bộ phận của chiếc đồng hồ. Chỉ có người
vô ích chứ không có công việc nào vô ích cả. Đừng hỏi Tổ quốc đãi ngộ thế
nào, hãy hỏi mình phải làm gì cho Tổ quốc… Xã hội lúc đó đang cần
những người như thế… Vui sao con đường đi đánh Mỹ / Như chảy hội mùa
xuân ngàn năm có một lần… Đường Trường Sơn ào ào lá đỏ… Đi, ta đi
giải phóng miền Nam / Khi quê hương còn bóng quân xâm lược thì ta còn
chiến đấu quét sạch nó đi…
Tôi vào đời lúc đất nước trong cảnh chiến tranh gay go, ác liệt, gian
khổ và túng thiếu. Cũng như nhiều người, tôi đã vượt qua, không có gì để
hãnh diện cũng không làm điều gì phải sượng với đời mặc dù tôi phải thể
hiện quyết tâm tới ba lần mới được chọn đi “B”. Tôi đã cùng đồng đội hành
quân dọc Trường Sơn hết gần nửa năm trời, thoát được những ổ biệt kích
phục rình hoặc đổ dò bất chợt, những trận “bom giải thảm” hay “bom tọa
độ” và những cơn sốt rét rừng tai quái… Tôi đã qua được những ngày gian
truân sất bất sang bang ngay tại cửa ngõ Sài Gòn sau Tết Mậu Thân.
Những ngày bị giặc bố càn, đồng đội thương vong tứ tán, giữa bưng Đồng
Tháp Mười trống bốc, tôi nằm bất động, phủ mình dưới đám cỏ năn trong
khi hàng đòan trực thăng quần đảo vừa bắn xuống như vãi đạn vừa kêu gọi
https://thuviensach.vn
chiến binh Việt cộng hãy chiêu hồi về với chính nghĩa quốc gia… Chỉ cần
chút yếu lòng là sẽ bật đứng dậy, giơ tay lên, có trực thăng đỗ xuống liền và
bốc đi ngay... Những nơi nào khó khăn ác liệt người ta giao việc cho tôi với
lời động viên là vì tôi trẻ khỏe, quen với chiến trường! Tôi làm không vì lời
biểu dương cửa miệng của ai, chỉ nghĩ rằng không thể sống hèn với cái triết
lý tưởng như nhuốm màu mê tín: “Nếu định mệnh khắc lên trán ta cái ngày
tận số thì ta cứ ung dung thanh thản mà đi”. Sau này nghĩ lại là nó khởi
xuất từ câu nói của tướng Napoléon Bonaparte thấm vào tôi từ tuổi thiếu
niên: “Mỗi người lính đều có một viên đạn dành riêng cho mình”!Khi viên
đạn ấy rời khỏi nòng súng thì dù anh chạy lên trời hay chui xuống đất nó
cũng tìm đến với anh! Tôi tin là ông-bà-cha-mẹ che chở tiếp sức cho tôi vì
ngày tôi khóac ba lô chia tay gia đình đi B, cha tôi hỷ mũi liên hồi, lời căn
dặn đứt ra từng khúc: “Các con không may sinh phải thời tao loạn. Đi vào
nơi mũi tên hòn đạn, hèn thì người khinh, liều thì uổng mạng! Cậu mợ ở
nhà dõi theo từng bước con đi. Cầu mong ông bà phù trợ cho con cháu
chân cứng đá mềm qua được những chông gai nguy hiểm”!
Tôi đón nhận hòa bình, trở về quê hương với tâm trạng quẳng gánh lo
đi để vui sống. Nhưng tôi bị hụt hẫng ngay từ khi chiếc tàu biển Thống
Nhất cặp bến Hải Phòng, trên toa xe lửa về lại Thủ đô chật như nêm kẻ
đứng người ngồi, trên chiếc xích lô cũ nát, anh “tài” ngồi gếch chân lên
càng xe nhìn ông khách lui cui lụi cụi sách từng cái túi vào nhà!
Chúng tôi ra đi chấp nhận sinh Bắc tử Nam hoặc ở nơi xó rừng góc
biển chân trời nào miễn là hy sinh cho Tổ quốc. Nhưng thóat chết trở về,
được vào lại mái nhà xưa không dễ. Khi bước chân đi, chú công an mặt non
choẹt đến đòi đưa quyển hộ khẩu, cầm cây bút xổ ngang một nét coi như
mình mất gốc! Ngày trở về, may mà cha mẹ còn sống, ký chấp nhận cho
con được nhập lại vào nhà, nếu không thì bơ vơ! Đại gia đình gom trong
môt căn hộ mà mỗi gia đình nhỏ là một cái giường. Anh em “kiến giả nhất
phận” cổ nhân dạy rồi! Những gì bị kìm nén lâu thành ức chế trước một
tương lai vô định nảy ra nhiều cảnh đau lòng ngấm ngầm hoặc bộc phát ra
từ không ít những ổ gia đình như thế!
https://thuviensach.vn
Chạy xin việc làm cũng vất vả cay đắng lắm! Lúc này xã hội đã có câu
truyền khẩu: “Nhất thân–Nhì thế–Tam quyền–Tứ chế”. Tôi chỉ có một cái
“chế” (chế độ, chính sách) do mình tự làm ra nhưng phải là gặp người tử tế.
Tôi thật may gặp được những người tốt, vô tư giúp qua lúc khó và dù chẳng
thể trả ơn nhưng suốt đời tôi không quên họ. Âu đó là cái phúc mà tôi được
hưởng từ cái đức của tiền nhân. Vớt được chút tình yêu phải vật lộn mãi
trong gian khó! Tôi tự bằng lòng với cái mình làm ra chẳng cần biết là to
hay nhỏ mà trời không lấy lại và coi đó là hạnh phúc dù vẫn ghi tâm lời cổ
nhân “cái quan nhận định”!
Gánh lo vẫn triền miên trĩu nặng trên vai! Tôi chỉ kịp chôn cha! Được
cho về hưu sớm giữa thời “bao cấp” với đủ lý do mà không thể giãi bày
cùng ai, ông già mới ngòai sáu mươi đã tóc bạc như sương, hốc hác và còm
cõi, vẫn phải thay con xếp hàng cả ngày không kể nắng mưa, làm cái việc
tiêu thụ tem phiếu cho cả nhà được sống qua ngày và bán đi những bao
thuốc điếu theo cái “bìa tiêu chuẩn” mà cha con đều không dám hút để phụ
thu thêm. Đến lúc đổ xụp xuống, cả tháng trời nằm viện, cũng chẳng chẩn
đoán ra rõ bệnh. Cha tôi thều thào đòi về được chết ở nhà mà chẳng giận ai,
chẳng tiếc nuối điều gì. Chắc là ông cụ chết vì kiệt lực! Chiếc áo cuối cùng
cho một viên chức hưu trí hiền lành, trung hậu, cả tin là chiếc hòm mộc bào
sơ sài, phết lớp nước phẩm hồng lợt lạt. Để bít những đường nứt nẻ, anh em
tôi phải lấy đất thó trát vào và bồi thêm một lớp giấy báo quét lên màu
phẩm hồng thật đậm! Đám tang cha tôi đi trong buổi sớm thu mưa lạnh tái
tê, những người tiễn đưa tan tác! Mấy chục năm đã qua, nghĩ đến cha tôi
vẫn thấy xót xa ai oán và nhớ mãi lời cha thủ thỉ tâm tình lúc tôi đã thành
thân: “Sống vào thời buổi nhiễu nhương thì thần
phật cũng hết thiêng. Đi
theo ai chỉ vì miếng cơm manh áo chỉ là phường giá áo túi cơm. Nhưng
theo điều thiện lắm lúc cũng mơ hồ mà còn chịu điều oan trái”. Trời cho
con hưởng lộc hơn cha, nay đã ở tuổi “cổ lai hy” mà xem ra trời chưa đòi
lộc. Chợt lúc nghĩ đến cha lòng vẫn xót xa thân phận một đời người: “Cha
ơi, cha mất lâu rồi / Mà con vẫn nặng nỗi niềm thương cha”!
Năm 1979, tôi lại bị chòang lên người mảnh chiến y những tưởng
được đoạn tuyệt với nó rồi trong khi không ít người đồng lứa hoặc sau tôi
https://thuviensach.vn
cứ ung dung hưởng lộc! Một hôm ngồi trên đỉnh đồi hướng về phía trời xa,
nỗi thương vợ nhớ con day dứt. Tôi hút liền mấy điếu Tam Đảo. Tàn thuốc
bỏng tay làm tôi sực tỉnh. Nhớ lại ngày còn ở trong Nam, lính ta mê nhất
thuốc CAPSTAN chiến lợi phẩm mỗi khi đánh Mỹ. Từ những mẫu tự đó,
lính miền Đông tán gẫu thành hai câu thơ xuôi ngược dí dỏm: Chiếc
Áo Phong Sương Trao Ai Nhận? Nhận Áo Thư Sinh Phụ Áo Chàng! Chiếc
áo thư sinh với tôi đã không thể mặc từ lâu rồi vì ngày càng chật chội
nhưng Chiếc ao phong sương rộng thùng thình lúc nào chòang lên cũng
được. Có khác chi kẻ bị phụ tình! Tôi chợt nhận ra sự vô cảm của cộng
đồng và sự dối trá sau những mỹ từ ở đâu cũng bị nghe nhàm chán. Lại gần
một thập niên trôi qua, tôi mới rũ bỏ được t...
HÀ NỘI BỂ DÂU
Tác giả: Nguyễn Văn Thịnh
Truyện ký
Ebook: Cuibap
Nguồn text: nguyenvanthinh4065.com
https://thuviensach.vn
Lời Tác Giả
Thưa bạn đọc:
Bởi tôi nghĩ hồi ký chỉ dành cho những nhân vật tầm cỡ hoặc chí ít
cũng lưu lại dấu ấn trong đời sống cộng đồng. Tôi không có được cái hân
hạnh ấy, chỉ nghĩ mình như một con cá trong bầy cá tung tăng bơi lượn theo
dòng chảy lịch sử. Nếu không có bầy cá thì một con cá chẳng là chi. Nhưng
một con cá trong bầy cá ngược xuôi ngang dọc nổi chìm khiến người ta
nhận ra dòng chảy kia mạnh, nhẹ, xoáy, yên để bày cá lúc chụm lại, lúc tản
ra, con mất con còn và cuối cùng tan biến vào biển cả mênh mông.
Đó là những chương ký sự riêng chung lẫn lộn của thời niên thiếu hồn
nhiên và thời thanh niên đầy biến động với những thân phận con người
trước cuộc đời dâu bể.
Tự bach:
Bác sỹ Nguyễn Văn Thịnh, sinh năm 1940 tại Hà Nội, hội viên Hội
Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1966 tham gia kháng chiến chống
Mỹ ở chiến trường Nam Bộ và tiếp sau là cuộc chiến bảo vệ biên cương ở
hai đầu đất nước. Năm 1997, mấy truyện ngắn đầu tay được đăng trên Tuần
báo văn nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam, tiếp sau viết nhiều thể loại: Tiểu
thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kịch, thơ, phê bình, tiểu luận. Có tác phẩm
được giải thưởng của Trung ương và Thành phố, nhiều bài đăng trên các
báo, trang mạng sạch trong và ngoài nước, được dư luận quan tâm.
Cầu mong dân nước yên ổn , thanh bình, xã hội tiến bộ, văn minh,
người người sống trong hòa ái.
(Nguyễn Văn Thịnh)
Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
https://thuviensach.vn
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú qúy cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự phù trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh
(Trăng xưa soi thành phố mới
Thăng Long – Hà Nội cố đô
Phố phường đường xưa lạc lối
Rập rình điệu nhạc lạ tai
Bon chen ngàn năm phú qúy
Người thân nửa mất nửa còn
Than chi sự đời chìm nổi
Trên đầu tóc trắng như mây)
NGUYỄN DU
https://thuviensach.vn
1
Người Hà Nội
Những tình cảm nơi học đường sáng lạn
Quên làm sao tuy dĩ vãng xa xôi
Vì đó là những kỷ niệm của thời
Thời cắp sách – thời vô ngần trong sạch
Lâm Sỹ Ngọc
Năm 1952, vừa 12 tuổi, tôi theo học lớp đầu Đệ nhị cấp (từ Đệ thất
đến Đệ tứ – nay là trung học cơ sở), nhìn những anh hệ Đệ nhất cấp (từ Đệ
tam đến Đệ nhất – nay là trung học phổ thông) lớp trên với con mắt cảm
phục kính trọng lắm. Hệ công lập Hà Nội sau ngày quân Pháp tái chiếm lúc
đầu chỉ có Trường Lycée Albert Sarraut ở phía trước dinh Toàn quyền dành
cho lũ con tây và con viên chức lớn hoặc nhà giàu người Việt và Trường
Chu Văn An quen gọi là Trường Bảo hộ (École protecteural) hay là trường
Bưởi, bị Pháp chiếm làm trại lính nên phải dời về Hàng Cót, rồi xuống
Hàng Bài, con trai con gái học chung. Trường Hàng Bài xưa là Trường Gia
Long dành cho con gái, năm 1950 mới tách ra: Trường nữ học Trưng
Vương sang đường Hai Bà Trưng gần Nhà hát lớn, lúc đầu chỉ có hệ Đệ nhị
cấp; Trường Nguyễn Trãi ở lại phố Hàng Bài; Trường Chu Văn An lên Cửa
Bắc (Trường Cao đẳng sư phạm = École normale), sau hòa bình 1954 mới
về lại điểm cũ bên Tây hồ.
So với bây giờ, đường xá xe cộ của Thủ đô thời ấy cũng chỉ như một
phố huyện thôi. Đa phần học sinh và không ít thầy giáo đến trường đều đi
bộ. Học sinh đi xe đạp thời đó ít hơn cả số học sinh đi xe @bây giờ nhiều.
Dù nhà giàu cũng chỉ cho con đi xe xích lô (cyclo) chứ không dám cho con
https://thuviensach.vn
đi xe đạp vì sợ cái họa tai nạn lưu thông! Xe ô tô dân sự lơ thơ nhưng xe
nhà binh thì nhiều. Giữa phố phường mà chúng phóng bạt mạng. Thằng lái
xe cần gì có bằng lái, cần gì sợ có hơi men. Men càng nồng tay càng vô tư
cẩu thả với cái vô lăng, bất cần đời. Lính mới ở chiến trường hút chết trở
về, lính ngày mai bị đưa ra trận mạc, tha hồ túy lúy càn khôn! Tay lái xe,
tay cua gái, cười hô hố, thét the thé, khóc hu hu… mặc sức như chỗ không
người! Xe nhà binh cán chết người, chết vật vô tội vạ! Thậm chí chúng còn
cố tình gây ra tai nạn để được bỏ tù còn hơn là bỏ xác ngòai chiến trận!
Học sinh đi xe đạp thường là ở lớp trên và nhiều anh cũng bạo phổi to
gan ngang tàng lắm.
Nhà anh ở phố Hàng Đào. Nhà tôi ở phố Hàng Bè. Cùng đi về mãi
trên một con đường, quen mặt biết là cùng trường lớp trên lớp dưới. Một
hôm tôi đang cắp cặp vội vã nửa đi nửa chạy trên hè vì sợ muộn giờ. Bỗng
có tiếng gọi to sát ngay bên:
- Ê… Nhóc!
Tôi quay ra. Xe anh đỗ sát lề hè. Miệng cười thân thiện, hất hàm gọi
tôi:
- Lên đây đi!
Dù bẽn lẽn nhưng cũng không thể chối từ sự giúp đỡ của một anh lớp
trên trong trường hợp ấy. Tôi ngồi nghiêng trên đòn ngang khung xe. Anh
ngoáy chân đạp vù vù.
Chúng tôi từ biết mặt đến quen nhau từ đấy.
Anh thường chở tôi đi về mỗi khi anh em gặp nhau trên đường.
Khi một chiếc xe nhà binh nhâng nháo phóng ào qua, anh dạt xe sát lề
đường chửi:
- Đồ chó đểu!
- Mũ đen (biệt kích), mũ đỏ (nhảy dù) thằng nào đểu hơn? – Tôi hỏi.
- Thằng nào cũng đểu!
Có lần anh hỏi dò tôi:
- Nhóc có thích đi lính không?
- Em chưa lo – Và tôi hỏi lại:
- Đỗ tú tài anh có thích đi sỹ quan không?
https://thuviensach.vn
- Nhóc thích commando (biệt kích) hay parachute (nhảy dù)? – Chắc
anh thử tôi.
- Em không thích đánh nhau!
Có lần anh đèo tôi về tận nhà và vào chơi. Mẹ tôi mừng lắm nói:
- Em nó còn nhỏ dại, nhờ các anh lớp trên bảo ban cho!
Dường như anh cảm mến tôi và tôi cũng qúy anh.
Đầu năm học mới, một hôm vào lúc tan trường, tôi vừa đi ngang tới
dấu viên đạn canon ngày xưa tàu chiến Pháp đậu ngòai sông Cái bắn thẳng
vào cửa Bắc thành thì có một chiếc ô tô TRACTION –15 trờ sát tới, tôi
nhảy vội lên vỉa hè cũng vừa lúc xe dừng lại và anh mở cửa xe thò đầu ra
tay vẫy:
- Lên đây mau!
Xe vừa chạy anh cười khoái trá khoe với tôi ngay:
- Phần thưởng đậu tú tài của bố mẹ anh đây! Hôm nay chia vui với
nhóc tỷ một chầu.
Anh lái xe chạy khắp các phố, vòng quanh Bờ Hồ rồi đãi tôi một chầu
kem Hồng Vân. Anh cho biết đang học lớp Dự bị đại học P.C.B.
(Physic=Lý; Chimie=Hóa; Biologie=Sinh). Tôi nghĩ bụng nhà anh có cửa
hàng buôn bán tơ lụa lớn thế thì giàu lắm. Tôi mà đậu tú tài thì phần thưởng
là chiếc xe đạp PEUGEOT đã luých (lux) lắm rồi!
Từ đó tôi không gặp anh nữa.
Nhiều lần qua phố, nhìn vào cửa hàng nhà anh, tôi chỉ thấy tíu tít
người ta ra vào mua bán. Tôi vốn nhát, vả anh có phải là bạn đâu? Chỉ
mong thấy bóng anh là tôi sẽ chạy tới liền. Tuy nhiên cái dáng lưng cong
cong, hai tay khuỳnh khuỳnh, ngồi trên chiếc xe đạp STERLING có cái yên
cao vổng lên, nét mặt linh lỉnh khinh đời, miệng huýt sáo gió, hai chân
phóng tít thò lò cứ ấn tượng trong lòng tôi mãi.
Ngày tháng qua đi mà cái cảnh thanh niên học sinh trốn lính diễn ra
thường lắm. Có lần cảnh binh với lính ập vào trường, xông vào từng lớp bắt
người. Nhiều anh lớn nháo nhác chạy vòng quanh, có anh nhanh chân
phóng ào qua cửa sổ vượt bờ tường lủi biến đi. Tuy nhiên lần nào cũng có
https://thuviensach.vn
người bị tóm cổ lôi xềnh xệch ra sân trường, tống lên xe cam nhông
(camion) phóng đi mất hút.
May mà tôi chưa kịp lớn để phải chịu chung cảnh ấy thì có Hiệp định
hòa bình. Đám nhỏ chúng tôi háo hức lắm. Cái lo của cha mẹ mãi sau này
lớn lên tôi mới hiểu và thương mà cũng chẳng giúp được gì. Cha tôi đã ký
hợp đồng ở sở làm, lĩnh trước ba tháng lương để đưa cả nhà vào Nam.
Nhưng sau nghĩ dại gì bỏ đi bơ vơ xứ người xa lạ, biết bao giờ về lại quê
hương? Chi bằng ở lại với chính phủ Cụ Hồ, nước nhà độc lập, sống yên
tâm cho các con hơn. Chúng tôi không thể nào quên những ngày tản cư:
chạy càn, máy bay ném bom, obus (trái phá) rít trên đầu, nhà cháy, người
chết giữa đường, học với mấy bạn lớn bé chung một lớp do cha tôi dạy tại
nhà ở nhờ dân, năm lần bảy lượt bỏ giữa chừng vì làng mạc bị giặc càn tới
đốt phá, gia đình đành phải hồi cư mà lúc đó bà con quen gọi là “dinh tê”
(entrée) vào thành. Những ngày chờ “móc” người đưa đường, gia đình tôi
trú tạm một căn nhà vô chủ tại Đầm Đa, Ninh Bình. Ở đây có mấy anh
thanh niên tuổi đôi mươi chán chường thế cuộc, dùng dằng nửa ở nửa về.
Ban đêm các anh ra vùng giáp ranh tề-ta buôn lậu những hàng thuốc tây,
bút máy, đồng hồ, mũ nồi, áo len, khăn ấm… Có khi bị du kích truy đuổi,
chạy thục mạng, bỏ của giữ lấy người! Ban ngày thì ngủ vùi hoặc đánh cờ
và thường nghêu ngao dấm dứt bài thơ:“Thôi thế từ nay là dứt tình / Vấn
vương gì nữa nợ đao binh / Muốn học người xưa làm ẩn sỹ / Vách núi đề
thơ với một mình / Còn đấy ai đi thì mặc ai / Mặc ai, ai đó áo chưa phai /
Mình về mình biết mình thôi nhỉ / Tiếc gì tơi tả áo cầu vai / Mới ngòai hai
mươi mùa xuân thôi / Mà thấy hình như tóc bạc rồi / Bụi bậm đua chen là
thế đấy / Hay gì người hỡi, hỡi ta ơi! / Bút đã từng phen làm gió mưa /
Từng lui giặc nước một lời thơ / Cũng thôi, tàn mộng bình thiên hạ / Sự
nghiệp ơ hờ cơn gió đưa / Nghề súng thua gì ai nữa đâu / Từng thét ba
quân trận thắng đầu / Cũng không mơ nữa làm nguyên soái / Nấm mồ
chiến tướng biết nông sâu? / U ẩn hằn lên vầng trán cao / Hết Chiến khu
Ba sang đất Lào / Rồi lại quay về mơ Việt Bắc / Đi mãi đi hoài, đi đến đâu?
/ Đi mãi để mà đi đến đâu / Có dễ mà đi đến bạc đầu / Vẫn ở lưng chừng
đường lỡ dở / Mà nhìn kẻ trước ngắm người sau / Đã chót đầu thai phận
https://thuviensach.vn
lỗi thời / Thì dù đi mãi cũng là thôi / Tìm môt cô thôn mà ẩn giật / Lại đẹp
lung linh một góc trời / Mình biết thương mình, mình về thôi / Còn bao
thằng nữa nhớ thương ôi! / Từng đêm dằng dặc buồn không ngủ / Đốm lửa
đầu tay đã tắt rồi / Chẳng học ai xưa làm hàng thần / Đẹp gì Từ Hải lúc sa
chân? / Thà như Từ Thứ trong rừng vắng / Danh lợi bao nhiêu cũng chẳng
cần / Rồi đến khi nào tóc bạc phơ / Đời đã quên người trai thuở xưa /
Chẳng làm thi bá, không danh tướng / Vuốt bộ râu tiên đánh ván cờ”!Cái
tuổi lên mười thơ dễ nhập tâm và âm ỉ nhớ dai. Thời chống Mỹ đó là loại
thơ chiêu hồi, tôi bẵng quên đi. Đến độ “vuốt râu đánh cờ” chợt lúc bật ra
từng khúc, chắp lại và thấy thương quá một lớp người!
Ngày 10 tháng 10 năm 1954, tôi trong dòng người đứng dọc Chợ
Hôm–Đức Viên–Phố Huế hớn hở đón các anh bộ đội từ phía Chợ Mới Mơ
tiến về cùng hát chung bài ca: Trùng trùng say trong câu hát / Lớp lớp đoàn
quân tiến về / Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng… Bao nhiêu là
hoa, bao nhiêu là người hò hát, gào thét khản cả cổ, vừa cười vừa khóc vui
sướng tưng bừng.
Cuộc đời dâu bể, lúc đó thằng bé 14 tuổi là tôi chẳng thể nghĩ rằng 21
năm sau nó lại từ rừng miền Đông ngồi trên đoàn xe giải phóng băng băng
trên những con đường nhựa thênh thang tiến về thành phố Sài Gòn. Điều
tôi sớm nhận ra là không như người Hà Nội thời niên thiếu của tôi, sự đi
hay ở mỗi người có thời gian 300 ngày lựa chọn. Bây giờ, người Sài Gòn
đa phần còn ngơ ngác bàng hoàng với “biến cổ trời sập” vừa diễn ra đây!
Qua nỗi sợ lúc đầu, có vui chỉ là vui gượng vì chưa biết hậu sự sẽ ra sao:
lấy gì để ăn và làm gì để sống? Chỉ sau mấy ngày, chợ trời đã mọc ra nhan
nhản trên các con đường ở trung tâm thành phố. La liệt áo quần bốn mùa đủ
mầu lòe loẹt, đồ gia dụng, đồ điện tử, nhiều thứ lạ chưa từng thấy! Người
mua chủ yếu từ hậu phương lớn mới vào. Đám ở rừng về chỉ đi “chợ ngó”!
Giữa tháng năm các tỉnh phía Nam mở hội mừng ngày thống nhất. Lời bố
cáo từ Chính phủ trung ương: “Đây là đại thắng lợi cùa toàn dân tộc Việt
Nam, không phân biệt Bắc-Nam, bên này bên nọ; kẻ thua là những thế lực
xâm lược và bọn người coi rẻ quyền lợi của quốc gia dân tộc”! Người nghe
chẳng thể biết ai là người thấy nặng, nhẹ trong lòng. Tôi thở phào đã thoát
https://thuviensach.vn
chết chẳng lưu luyến gì trở về quê hương với bao nhiêu hy vọng được sự bù
đắp của gia đình và xã hội.
Nhớ lại ngày đầu năm 1955 cả Thủ đô mừng đón Chính phủ kháng
chiến trở về. Lũ trẻ chúng tôi như muốn bay lên dưới tay Bác Hồ cầm chiếc
“mũ cát” nhịp cho cả ngàn vạn người cùng hát vang lên. Lần đầu tiên người
Hà Nội cùng nhìn về một hướng hát chung một bài ca: Kết đoàn chúng ta
là sức mạnh / Kết đoàn chúng ta là thép gang / Đoàn kết ta bền vững… còn
hơn cả thép gang! Lời ca gây niềm tin mới. Một buổi sáng, chưa tới giờ ra
chơi mà trống đánh thúc dồn dập khác thường. Thầy giám thị nhắc nhở các
lớp mau xuống sân trường. Ông Tổng Trọng (Tổng giám thị) hối thúc các
lớp mau xuống sân trường, mời các thầy cô giáo đứng trước chân cột cờ và
bảo học trò xếp hàng nghiêm chỉnh. Chúng tôi nghển cổ chờ xem có
chuyện lạ gì. Tôi len lỏi tới chân bậc tam cấp. Một đoàn người từ Phòng
Hội đồng lố nhố đi ra. Thầy giám học Đào Văn Khánh bước nhanh lên
trước, ra hiệu cho học trò im lặng. Thầy Hiệu trưởng Đào Văn Trinh phong
cách đĩnh đạc, trịnh trọng, chậm rãi giới thiệu Bác Hồ đến thăm trường…
Lần đầu trong đời, lũ trẻ chúng tôi được tận mắt nhìn thấy Bác. Ông cụ
hiền từ, giản dị, đôi mắt sáng tinh anh, giơ tay xua xua để các cháu hạ cơn
phấn chấn. Bác nói đại ý: Mấy năm qua, Bác và Chính phủ phải dời lên
chiến khu lãnh đạo kháng chiến. Vừa trở về Thủ đô được ít ngày, hôm nay
Bác tới thăm trường. Trước hết thay mặt Chính phủ Bác xin lỗi vì để các
cháu bấy lâu phải sống trong vùng giặc tạm chiếm. Bây giờ nửa nước ta
được giải phóng rồi thì các cháu phải chăm chỉ học hành và siêng năng
giúp đỡ cha mẹ trong công việc hàng ngày để sau này thành người lao động
có văn hóa phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân; thầy trò phải đoàn kết cùng
tòan dân xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, mọi người
được ấm no, sung sướng, các cháu nhỏ đều được học hành. Bác nói ngắn
thôi rồi ra về. Cả đoàn gần chục người đi có một chiếc xe con và một chiếc
xe zeep cũ. Những lời dạy của Bác lúc ấy thật mới lạ. Nghe tôi kể lại, cả
nhà ai cũng rưng rưng trước tấm lòng nhân ái quảng đại của Cụ Hồ. Về sau,
thuận dịp nào vui tôi buột kể chuyện này thì không mấy ai tin, có người cho
rằng tôi bày đặt chuyện ra có ẩn ý gì! Cả dân tộc này đều phải nhớ ơn vị
https://thuviensach.vn
“cha già dân tộc” chớ sao có sự ngược đời! Tôi ấm ức mãi trong lòng. Sau
tình cờ đọc mấy câu thơ của Chế Lan Viên: “Quanh Hồ Gươm không ai
bàn chuyện vua Lê / Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ / Hiểu sao hết
được tấm lòng lãnh tụ / Tìm đường đi cho dân tộc đi theo”, tôi mới thấm
cái tình đời.
Chúng tôi vẫn được học hành, được vào Đội thiếu niên quàng khăn
đỏ, được nhảy múa những điệu mới lạ: mí đồ đồ đồ phá mí rê / rê đô sì đô
rế sòn sòn… hoặc là: sol sol sol đố sol / sol sol sol đố rê / rê rê rê mí sì
rê… nhộn lắm, được hát hò ca ngợi Bác, Đảng, các anh bộ đội và lao động
vinh quang, được học tập giác ngộ thế nào là giai cấp phản động và tiến bộ,
là xã hội chủ nghĩa ưu việt – không người bóc lột người, tiến tới xã hội
cộng sản “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” và mơ ước được như
Liên Xô – thiên đường hạ giới… Chúng tôi tin đang được sống trong một
xã hội tốt đẹp nhất của lòai người mà “người lao động làm ông chủ”, giới
quan quyền xưa đã bị lịch sử chôn vùi, thay vì là những “cán bộ như người
đầy tớ trung thành tận tụy”. Tương lai thanh niên nam nữ sẽ như những
ông hòang bà chúa. Bấy giờ mới vỡ ra rằng cái khu biệt thự tây kín cổng
cao tường kia là hang ổ của những tên thực dân đầu sỏ và bọn Việt gian
trùm sò! Cái trường tây mang tên một thằng thực dân chóp bu chuyên đào
tạo ra những kẻ tay sai mẫu quốc nói tiếng tây thạo hơn tiếng mẹ đẻ, nay là
cơ quan đầu não của Nhà nước nhân dân kiểu mới!
Hai năm sau ngày giải phóng, chúng tôi được học theo hệ phổ thông
10 năm, nói là theo chương trình của Liên Xô. Thì biết vậy! Trước kia Tiểu
học cho hệ điểm 10, Trung học cho hệ điểm 20, nay theo Liên xô cho hệ
điểm 5, được thầy giải thích là gọn mà chuẩn. Chúng tôi bảo nhau: 5 hay 10
cũng thế thôi – Dù 20 cũng chẳng khác gì!
Khi Đoàn thanh niên thành phố phát động trong giới học sinh – sinh
viên dấy lên phong trào Bài trừ văn hóa nô dịch, những sách cũ tây-tàu-ta
bất luận đều gom lại đốt đi hoặc đem nghiền thành bột giấy! Ông thầy dạy
nhạc Vũ Nhân thay thầy Thẩm Oánh đi Nam, sáng tác hưởng ứng một bài
phổ ra cả trường đều hát: “Thi đua bài trừ văn hóa nô dịch chúng ta nêu
cao gương đấu tranh tòan dân… Đốt phá cho bằng hết văn hóa suy đồi từ
https://thuviensach.vn
bao lâu lũ đế quốc xâm lăng reo rắc sầu”… Thế mà ít lâu sau vắng bóng
thầy. Nghe tin thầy bị bắt đem đi đâu! Thầy nguyên là trung úy quân đội
quốc gia thì ai cũng biết nhưng không ai được biết thầy đã làm việc gì
phạm pháp? Chẳng biết có bị đưa ra trước tòa xét xử hay không nhưng sau
này nghe đâu thầy bị ngồi tù hơn chục năm mới được tha. Về nhà, nhờ thạo
mấy nốt sol-đố-mì-la cuối đời làm nghề dạy nhạc kiếm ăn nhẹ nhàng. Thầy
Lại Cang dạy Văn tôi gần suốt cả thời trung học. Thi tốt nghiệp trường Đại
học sư phạm đúng vào năm 1954, nhận giấy công vụ vào Huế dạy trường
Quốc học nhưng thầy ở lại nhận sự phân công của chính phủ kháng chiến
vừa về tiếp quản Thủ đô. Tuy nhiên đám học sinh đệ nhị cấp (cấp hai)
nhiều trường tư thục biết tiếng từ khi thầy còn là sinh viên đi “bán cháo
phổi”. Thầy đa tài, có ba bằng: Cử nhân Văn chương, Sử học và Triết học.
Ngòai ra thầy cũng giỏi cả Tóan học, Anh ngữ, Pháp ngữ và Hán ngữ. Thầy
viết nhiều sách khảo cứu văn học cổ điển rất công phu. Thầy kể khi viết về
Nguyễn Bỉnh Khiêm phải đọc cả triết học Trung hoa và Ấn Độ. Dáng dong
dỏng, da ngăm ngăm, tóc hớt cao, đôi mắt lim dim mơ màng sau tròng kính
cận dày cộp, mặc xuềnh xòang nhưng thầy giảng cuốn hút làm sao. Văn
học cổ điển, văn học lãng mạn ta tây, thầy truyền cái say sang trò. Có lần
thầy nói: Giữa giảng văn, bình văn, tán văn ranh giới rất mơ hồ. Làm sao
truyền được cảm hứng văn chương nghệ thuật cho người nghe mới là điều
cốt yếu. Tôi đến với văn chương khởi nguồn cũng từ những giờ giảng ấy.
Sau này, nghe về cái chết của thầy sao mà oan trái! Con người đa tài mà bất
lực trước thời thế. Trí lớn ngày một mỏi mòn dễ sinh ra trạng thái tâm thần
bất định! Tôi nhớ buổi giảng về Annakarênina, nét mặt thầy u ám. Cái tai to
buông thõng xuống của người chồng quan là nỗi ám ảnh suốt đời nàng tới
mức không chịu nổi! Và cái chết của người đàn bà đa đoan ấy có là tiền
định với thầy?
Tuy nhiên chúng tôi vẫn vui vẻ nhởn nhơ, không để ý tới những mối
lo toan phấp phỏng của cha mẹ do cuộc sống ngày càng khó khăn thắt ngặt
hơn. Những lần đi qua phố Hàng Đào, tôi để ý cái bảng hiệu nhà anh cùng
mấy lời chào: “Hàng tơ lụa – Bán buôn – Bán lẻ”
đã thay bằng cái bảng to
tướng bề thế lắm đề: “Công ty bông vải sợi quốc doanh” mà chẳng thấy
https://thuviensach.vn
hàng gì là bông, vải, sợi. Rồi sau lại thấy trưng ra mấy cái quầy bày lỏng
chỏng lơ chơ những đồng hồ cũ, kính và bút máy với một tấm bảng nhỏ
viết tay: “Máy khắc chữ”. Có lần tôi ghé vào thử khắc lên cây bút chữ Thân
tặng… để kỷ niệm một người bạn gái, nhân thể tò mò nhìn sâu vào trong thì
cảm giác như ngôi nhà nhiều chủ.
Đến khi bước chân vào trường Đại học tôi chỉ được tiếp quản cái xe
đạp cà tàng của bố và chợt nhận ra mình không là thành phần đáng tin của
xã hội mới này! Ông cán bộ tuyên huấn nói toạc móng heo: Đây là nhà
trường của công nông thì con em công nông làm chủ. Các thành phần khác
mới đúng là được ưu tiên! Xã hội đã phân chia giai cấp rồi mà trong trường
học còn chia ra nhiều đẳng cấp. Nhất hạng là các anh bộ đội và cán bộ.
Thượng thặng là những đảng viên. Thứ đến là con em liệt sỹ, miền Nam,
miền núi, công nông, lao động. Hạng bét là thành phần tạp nham dễ lung
lay chao đảo, chỉ lơ thơ mấy đứa coi như là chiếu cố! Lâu lâu đột nhiên
vắng bóng một người cùng học. Hỏi ra mới biết bị cho thôi học vì lý lịch có
điểm mờ nào đó nhưng chẳng ai dám hỏi đến tận cùng! Có bạn tên Hiệp
cùng học ở trường Nguyễn Trãi, là dân Ngũ Xã, bơi lội giỏi lắm. Ngày đoạt
giải tòan quốc “Bơi vượt sông Hồng”, cu cậu đem tấm Huy chương vàng
chóe tặng lại nhà trường trước sự hân hoan chào đón của hàng nghìn thầy
trò. Ít lâu sau không thấy bạn đi học nữa, nghe đâu cũng vì lý lịch, rồi
người ta chóng quên đi! Chẳng biết tấm huy chương vàng kia có còn lưu
trong “Phòng truyền thống” để là niềm tự hào của nhà trường mà sẽ chẳng
ai biết đến thân phận chủ nhân của nó!
Thời ấy, từ người đại diện sinh viên của trường đến những người quản
lý lớp, tổ đều do tổ chức chỉ định cả. Có ai vi phạm quy chế của nhà trường
thì kỷ luật cũng khác nhau tùy theo đẳng cấp! Lúc đó bên Đông Âu đang
lộn xộn, tiêu biểu là ở Hungari có Câu lạc bộ Pêtôphy ở thủ đô Budapest
do giới trí thức làm đầu trò và sinh viên làm ngòi nổ, quậy lên tưng bừng,
nên mọi sinh hoạt của thầy trò trong các trường Đại học nghiêm ngặt lắm.
Thực sự lúc ấy tôi vẫn là cậu học trò khờ khạo. Thằng Tây thì chẳng
mấy ai ưa nhưng dám đánh Tây mới thật là yêu nước. Bây giờ có Bác,
Đảng đánh đuổi nó đi thì sao lại không tin? sao lại không yêu? Lòng mình
https://thuviensach.vn
nghĩ thế mà không thấy chung quanh người ta soi mói ai bạn ai thù, chỉ biết
sống theo những gì gọi là chân-thiện-mỹ, không biết phải uốn lưỡi giữ
mình, cứ nghĩ sao nói vậy nên dễ bị trù! Cái tội của mấy đứa xuất thân từ
giới học trò thành phố là kém về ý thức tổ chức và phát ngôn thiếu ý thức
chính trị, nên dễ bị xếp vào loại yếu kém quan điểm lập trường giai cấp!
Dần dà tôi mới nhận ra là thân phận kẻ học nhờ, phải biết nghe lời chỉ bảo,
giáo dục của Đảng, của Đoàn mà chẳng đâu xa, chính là những người ngồi
chung ghế cùng nghe thầy giảng với mình! Các anh chi bộ, các bạn chi
đoàn phân tích cho rằng làm thầy thuốc cũng phải có lập trường giai cấp.
Trước một người bệnh cũng phải phân biệt rõ bạn thù. Dù không thầy nào
giảng như thế cả nhưng chúng tôi cũng không biết hỏi ai. Về nhà thì cha
thất thế lạc hậu rồi! Đến trường thì các thầy đang bị rang trong cái chảo lửa
đấu tranh giai cấp nên chi cũng sợ trò! Giảng bài, lời nói hớ hênh, đều đến
tai tổ chức nhà trường, các thầy khó tiến bộ. Có thầy bị điều chuyển đi
không phải vì dạy kém! Để cho ra lò những sản phẩm đỏ thắm chuyên sâu,
cần những người thợ lòchuyên sâu đỏ thắm… Những từ Chân-Thiện-Mỹ
đã thành cổ ngữ!
Không ít các anh bộ đội, cán bộ bước chân vào đại học, cái vốn văn
hóa đa phần cấp một, giỏi lắm cũng chưa hết cấp hai, trước khi thi tuyển
vào trường có được bổ túc văn hóa vài ba tháng, rồi cũng đậu! Một số học
sinh thành phần cơ bản đang học cấp Ba cũng được đặc cách đưa lên Đại
học. Khi kiểm tra học phần đều được điểm cao bởi chưng các thầy cũng sợ
trò, trừ mấy ông thầy lớn đặc biệt thôi. Ra trường nhiều anh được giao lãnh
đạo hoặc giữ lại giảng dạy các bộ môn, không ít anh được du học trở về với
học vị và học hàm cao ngất nghểu. Câu kháo râm ran: “Việt Nam có chuyện
lạ đời / Chưa hết lớp mười cũng được giáo sư!” nghe được chỉ để bụng
thôi! Nền giáo dục đại học dễ dãi một thời khởi từ sự ban ơn phát lộc trong
sự học hành đã đi đến hậu quả dù học thật mà ra bằng giả, rồi là học giả
cũng cho bằng thật, khởi đầu từ một thời như thế!
Cái danh “viên chức lưu dung” cứ như cục đá cột vào cổ cha, cột vào
chân con không biết làm sao gỡ ra được. Cho đến lúc chết cha tôi vẫn đau
https://thuviensach.vn
lòng lắm vì cái thân phận “hàng thần lơ láo” không thể làm chỗ dựa để con
phải long đong lận đận suốt đời!
Sang năm thứ hai, đi thực tập bệnh viện, tình cờ tôi lại gặp anh đã là
Bác sỹ cán bộ giảng Khoa Nhi của trường! Tính tôi vẫn nhút nhát lại thêm
mặc cảm thành phần nên không dám mạnh dạn nhận người quen cũ. Tò mò
biết anh là bộ đội chuyển ngành, là đảng viên, tôi càng linh lỉnh. Cán bộ
giảng chỉ quan hệ với cán bộ lớp và tổ để nắm sinh viên thôi. Mỗi khi vô
tình đối diện nhau, chỉ gật đầu chào qua lại. Có lần tôi đánh bạo hỏi anh đi
bộ đội hồi nào, anh chỉ cười ý nhị. Cảm thấy anh kho khó thế nào, tôi lảng!
Ra trường, những người mang thành phần như tôi cần rèn luyện thử
thách nhiều họa chăng mới được thành con người mới! Tôi chẳng mấy
buồn và muốn thử sức mình. Tiền nhân đã dạy: “Đường đi không khó mà
khó vì lòng người ngại núi e sông”. Tôi ham đọc sách kim cổ đông tây,
thích nghe những điều hay ý lạ và có chút máu lãng mạn phiêu lưu: Mỗi
người trong xã hội cũng như các bộ phận của chiếc đồng hồ. Chỉ có người
vô ích chứ không có công việc nào vô ích cả. Đừng hỏi Tổ quốc đãi ngộ thế
nào, hãy hỏi mình phải làm gì cho Tổ quốc… Xã hội lúc đó đang cần
những người như thế… Vui sao con đường đi đánh Mỹ / Như chảy hội mùa
xuân ngàn năm có một lần… Đường Trường Sơn ào ào lá đỏ… Đi, ta đi
giải phóng miền Nam / Khi quê hương còn bóng quân xâm lược thì ta còn
chiến đấu quét sạch nó đi…
Tôi vào đời lúc đất nước trong cảnh chiến tranh gay go, ác liệt, gian
khổ và túng thiếu. Cũng như nhiều người, tôi đã vượt qua, không có gì để
hãnh diện cũng không làm điều gì phải sượng với đời mặc dù tôi phải thể
hiện quyết tâm tới ba lần mới được chọn đi “B”. Tôi đã cùng đồng đội hành
quân dọc Trường Sơn hết gần nửa năm trời, thoát được những ổ biệt kích
phục rình hoặc đổ dò bất chợt, những trận “bom giải thảm” hay “bom tọa
độ” và những cơn sốt rét rừng tai quái… Tôi đã qua được những ngày gian
truân sất bất sang bang ngay tại cửa ngõ Sài Gòn sau Tết Mậu Thân.
Những ngày bị giặc bố càn, đồng đội thương vong tứ tán, giữa bưng Đồng
Tháp Mười trống bốc, tôi nằm bất động, phủ mình dưới đám cỏ năn trong
khi hàng đòan trực thăng quần đảo vừa bắn xuống như vãi đạn vừa kêu gọi
https://thuviensach.vn
chiến binh Việt cộng hãy chiêu hồi về với chính nghĩa quốc gia… Chỉ cần
chút yếu lòng là sẽ bật đứng dậy, giơ tay lên, có trực thăng đỗ xuống liền và
bốc đi ngay... Những nơi nào khó khăn ác liệt người ta giao việc cho tôi với
lời động viên là vì tôi trẻ khỏe, quen với chiến trường! Tôi làm không vì lời
biểu dương cửa miệng của ai, chỉ nghĩ rằng không thể sống hèn với cái triết
lý tưởng như nhuốm màu mê tín: “Nếu định mệnh khắc lên trán ta cái ngày
tận số thì ta cứ ung dung thanh thản mà đi”. Sau này nghĩ lại là nó khởi
xuất từ câu nói của tướng Napoléon Bonaparte thấm vào tôi từ tuổi thiếu
niên: “Mỗi người lính đều có một viên đạn dành riêng cho mình”!Khi viên
đạn ấy rời khỏi nòng súng thì dù anh chạy lên trời hay chui xuống đất nó
cũng tìm đến với anh! Tôi tin là ông-bà-cha-mẹ che chở tiếp sức cho tôi vì
ngày tôi khóac ba lô chia tay gia đình đi B, cha tôi hỷ mũi liên hồi, lời căn
dặn đứt ra từng khúc: “Các con không may sinh phải thời tao loạn. Đi vào
nơi mũi tên hòn đạn, hèn thì người khinh, liều thì uổng mạng! Cậu mợ ở
nhà dõi theo từng bước con đi. Cầu mong ông bà phù trợ cho con cháu
chân cứng đá mềm qua được những chông gai nguy hiểm”!
Tôi đón nhận hòa bình, trở về quê hương với tâm trạng quẳng gánh lo
đi để vui sống. Nhưng tôi bị hụt hẫng ngay từ khi chiếc tàu biển Thống
Nhất cặp bến Hải Phòng, trên toa xe lửa về lại Thủ đô chật như nêm kẻ
đứng người ngồi, trên chiếc xích lô cũ nát, anh “tài” ngồi gếch chân lên
càng xe nhìn ông khách lui cui lụi cụi sách từng cái túi vào nhà!
Chúng tôi ra đi chấp nhận sinh Bắc tử Nam hoặc ở nơi xó rừng góc
biển chân trời nào miễn là hy sinh cho Tổ quốc. Nhưng thóat chết trở về,
được vào lại mái nhà xưa không dễ. Khi bước chân đi, chú công an mặt non
choẹt đến đòi đưa quyển hộ khẩu, cầm cây bút xổ ngang một nét coi như
mình mất gốc! Ngày trở về, may mà cha mẹ còn sống, ký chấp nhận cho
con được nhập lại vào nhà, nếu không thì bơ vơ! Đại gia đình gom trong
môt căn hộ mà mỗi gia đình nhỏ là một cái giường. Anh em “kiến giả nhất
phận” cổ nhân dạy rồi! Những gì bị kìm nén lâu thành ức chế trước một
tương lai vô định nảy ra nhiều cảnh đau lòng ngấm ngầm hoặc bộc phát ra
từ không ít những ổ gia đình như thế!
https://thuviensach.vn
Chạy xin việc làm cũng vất vả cay đắng lắm! Lúc này xã hội đã có câu
truyền khẩu: “Nhất thân–Nhì thế–Tam quyền–Tứ chế”. Tôi chỉ có một cái
“chế” (chế độ, chính sách) do mình tự làm ra nhưng phải là gặp người tử tế.
Tôi thật may gặp được những người tốt, vô tư giúp qua lúc khó và dù chẳng
thể trả ơn nhưng suốt đời tôi không quên họ. Âu đó là cái phúc mà tôi được
hưởng từ cái đức của tiền nhân. Vớt được chút tình yêu phải vật lộn mãi
trong gian khó! Tôi tự bằng lòng với cái mình làm ra chẳng cần biết là to
hay nhỏ mà trời không lấy lại và coi đó là hạnh phúc dù vẫn ghi tâm lời cổ
nhân “cái quan nhận định”!
Gánh lo vẫn triền miên trĩu nặng trên vai! Tôi chỉ kịp chôn cha! Được
cho về hưu sớm giữa thời “bao cấp” với đủ lý do mà không thể giãi bày
cùng ai, ông già mới ngòai sáu mươi đã tóc bạc như sương, hốc hác và còm
cõi, vẫn phải thay con xếp hàng cả ngày không kể nắng mưa, làm cái việc
tiêu thụ tem phiếu cho cả nhà được sống qua ngày và bán đi những bao
thuốc điếu theo cái “bìa tiêu chuẩn” mà cha con đều không dám hút để phụ
thu thêm. Đến lúc đổ xụp xuống, cả tháng trời nằm viện, cũng chẳng chẩn
đoán ra rõ bệnh. Cha tôi thều thào đòi về được chết ở nhà mà chẳng giận ai,
chẳng tiếc nuối điều gì. Chắc là ông cụ chết vì kiệt lực! Chiếc áo cuối cùng
cho một viên chức hưu trí hiền lành, trung hậu, cả tin là chiếc hòm mộc bào
sơ sài, phết lớp nước phẩm hồng lợt lạt. Để bít những đường nứt nẻ, anh em
tôi phải lấy đất thó trát vào và bồi thêm một lớp giấy báo quét lên màu
phẩm hồng thật đậm! Đám tang cha tôi đi trong buổi sớm thu mưa lạnh tái
tê, những người tiễn đưa tan tác! Mấy chục năm đã qua, nghĩ đến cha tôi
vẫn thấy xót xa ai oán và nhớ mãi lời cha thủ thỉ tâm tình lúc tôi đã thành
thân: “Sống vào thời buổi nhiễu nhương thì thần
phật cũng hết thiêng. Đi
theo ai chỉ vì miếng cơm manh áo chỉ là phường giá áo túi cơm. Nhưng
theo điều thiện lắm lúc cũng mơ hồ mà còn chịu điều oan trái”. Trời cho
con hưởng lộc hơn cha, nay đã ở tuổi “cổ lai hy” mà xem ra trời chưa đòi
lộc. Chợt lúc nghĩ đến cha lòng vẫn xót xa thân phận một đời người: “Cha
ơi, cha mất lâu rồi / Mà con vẫn nặng nỗi niềm thương cha”!
Năm 1979, tôi lại bị chòang lên người mảnh chiến y những tưởng
được đoạn tuyệt với nó rồi trong khi không ít người đồng lứa hoặc sau tôi
https://thuviensach.vn
cứ ung dung hưởng lộc! Một hôm ngồi trên đỉnh đồi hướng về phía trời xa,
nỗi thương vợ nhớ con day dứt. Tôi hút liền mấy điếu Tam Đảo. Tàn thuốc
bỏng tay làm tôi sực tỉnh. Nhớ lại ngày còn ở trong Nam, lính ta mê nhất
thuốc CAPSTAN chiến lợi phẩm mỗi khi đánh Mỹ. Từ những mẫu tự đó,
lính miền Đông tán gẫu thành hai câu thơ xuôi ngược dí dỏm: Chiếc
Áo Phong Sương Trao Ai Nhận? Nhận Áo Thư Sinh Phụ Áo Chàng! Chiếc
áo thư sinh với tôi đã không thể mặc từ lâu rồi vì ngày càng chật chội
nhưng Chiếc ao phong sương rộng thùng thình lúc nào chòang lên cũng
được. Có khác chi kẻ bị phụ tình! Tôi chợt nhận ra sự vô cảm của cộng
đồng và sự dối trá sau những mỹ từ ở đâu cũng bị nghe nhàm chán. Lại gần
một thập niên trôi qua, tôi mới rũ bỏ được t...
 





