Lịch sử ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.Chào mừng quý vị đến với Website của Thư viện trường Tiểu học Hải Tân, thành phố Hải Phòng!
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Hồi ký Bà Tùng Long

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thu
Ngày gửi: 15h:15' 20-07-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thu
Ngày gửi: 15h:15' 20-07-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HỒI KÝ BÀ TÙNG LONG
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Lời giới thiệu
Vài lời thưa cùng bạn đọc
CHƯƠNG 1: Thời thơ ấu
CHƯƠNG 2: Những ngày tươi đẹp
CHƯƠNG 3: Đầu tiên và cuối cùng
CHƯƠNG 4: Vui buồn nghề văn - nghề báo
CHƯƠNG 5: Những kỷ niệm đáng nhớ trong khi giữ mục Gỡ Rối Tơ Lòng
CHƯƠNG 6: Không muốn làm chánh trị nhưng không thể thoát
PHỤ LỤC 1
Bùi Giáng và con tàu Hi Vọng
Tôi đã ăn cái Tết tuyệt vời nhất ở vùng Thạch Bích Tà Dương
Một bữa tiệc bất ngờ
PHỤ LỤC 2:
Gặp gỡ nhà văn lão thành Bà Tùng Long: “Viết là niềm vui lớn nhất đời tôi”[1]
Phảng phất hương trà cũ
Nguyễn Đức Thạch
Mây bay về trời
Lời giới thiệu
Người đọc ở thành phố trong Nam cuối những năm 50, suốt những năm 60 và đầu những năm
70 - trên dưới 20 năm - quen với cây bút của nhà văn, nhà báo nữ Tùng Long, thường ký kèm chữ
“Bà” ở trước tên. Bà Tùng Long nổi tiếng ở các truyện gọi là tâm lý xã hội, đăng trên các nhật
báo như một số loại phụ trương nhiều kỳ mà vào thời ấy gọi là “feuilleton”. Bà cũng nổi tiếng về
các mục giải đáp tâm sự của bạn đọc nữ trên các mục cố định của một số tờ báo hàng ngày hoặc
định kỳ. Tờ báo mà Bà Tùng Long có mặt thường xuyên hơn hết là Sàigòn Mới do bà Bút Trà, chị
dâu của chồng bà, làm chủ nhiệm.
Vào tuổi quá bát tuần, Bà Tùng Long viết hồi ký. Đương nhiên, hồi ký của một cây bút thì có
chuyện văn chương, chuyện viết lách. Song, tôi tìm thấy trong hồi ký của bà những nét đậm lạt của
một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của đất nước ta, của miền Nam, chủ yếu của Sài Gòn, nơi
quy tụ những sự kiện lớn của vùng đất mà cách mạng nối tiếp công việc chưa xong của mình, đối
mặt với chính quyền do Mỹ dựng lên. Bà Tùng Long không phải là nhà chính trị, ít nhất, như bà
nói trong hồi ký. Tuy nhiên, hồi ký của Bà Tùng Long vẫn là một hồi ký không loại bỏ được các nền
chính trị đương nhiên tác động lên bà. Bà Tùng Long cũng không phải là nhà văn, nhà báo cách
mạng, bà viết, như đã nhắc tới nhắc lui trong hồi ký, là để kiếm tiền nuôi chín đứa con và người
chồng, song bà không đứng trong hàng ngũ “cách mạng quốc gia” hay “cần lao nhân vị” hoặc đại
loại như vậy, dù rằng, về phương diện giao thiệp, bà quan hệ với những nhân vật thuộc chính
quyền. Bà cũng từng ứng cử nghị viện Sài Gòn vào thời cuối của triều đình Ngô Đình Diệm không tự nguyện, không thích, nhưng không thể từ chối.
Anh Lê Phương Chi đã lên danh mục tất cả 50 đầu sách của bà từ năm 1956 đến nay, trong đó
có 16 đầu sách tái bản và in mới sau năm 1975 - tôi chỉ nói những tiểu thuyết đã xuất bản thành
sách mà hầu hết được đăng tải trên các báo. Tôi cũng không nói về nội dung những mục như Gỡ
Rối Tơ Lòng, Tâm Tình Cởi Mở hay đường hướng của những tờ báo mà bà làm chủ bút, thư ký tòa
soạn, hay cộng tác viên, tôi làm một công việc đơn giản hơn - giới thiệu hồi ký của bà.
Tập hồi ký chia làm 6 chương thì 3 chương đầu nói về thời niên thiếu, tuổi học sinh và mối tình
đầu của bà, 3 chương sau thuật lại quãng đời viết văn, làm báo. Nếu 3 chương đầu giúp cho người
đọc hôm nay nhớ lại một thời miền Trung nước ta từ Đà Nẵng ra Huế rồi trở vào Tam Quan những
năm 20 và 30 của thế kỷ XX ở Sài Gòn, thì phần sau lại giới thiệu với người đọc một góc của
khung cảnh với ký ức văn nghệ Sài Gòn sau Hiệp định Genève. Sách báo hiện nay vẫn còn tương
đối hiếm về khung cảnh sinh hoạt những thời điểm vừa kể. Tuy Bà Tùng Long không chủ yếu làm
sống lại một cách đầy đủ khung cảnh ấy nhưng vẫn giúp cho chúng ta hình dung được chừng nào
hoàn cảnh của đất nước mình.
Người đọc có thể còn mong muốn Bà Tùng Long nói nhiều hơn những gì bà thấy, bà nghe trong
một xã hội chuyển động nhanh chóng, thậm chí không có quy củ, nhưng bà chỉ cung cấp chừng ấy
thôi, ta không thể đòi hỏi hơn.
Tôi vui lòng viết mấy lời giới thiệu tập hồi ký của Bà Tùng Long.
TRẦN BẠCH ĐẰNG
(12-2002)
Vài lời thưa cùng bạn đọc
Năm 1985, sau khi nhà tôi bỏ tôi đi trước, cuộc sống của tôi trở nên quá trống vắng, thừa thãi.
Các con đều đã lớn, có gia đình riêng, một số lại ra sống ở nước ngoài... Ngồi buồn, tôi lấy giấy
bút ra ghi lại những kỷ niệm ngày trước của mình, vì thật sự từ nhỏ tôi đã có thói quen và sở thích
viết lách, đến giờ - tôi ngồi cầm bút viết những dòng này vào đúng ngày sinh nhật 88 tuổi - vẫn
không thay đổi. Thoạt đầu, tôi không dám gọi đây là hồi ký, mà chỉ là những bài ghi chép, theo
những hồi ức và cảm hứng bất chợt, mỗi khi được nhắc nhớ một điều gì. Tôi viết về cha tôi, trong
đám giỗ của người; về nhà tôi - anh rất thường về thăm tôi trong những giấc mơ; về một người
bạn cũ, khi đọc được tin người ấy qua đời (hàng ngày tôi vẫn còn đọc đủ các báo, nghe đài, thói
quen không thể bỏ được từ thời làm báo); về những học trò cũ của tôi mà tình cảm của các em
dành cho tôi thật đáng trân trọng; về những kỷ niệm với bạn đọc mà thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ lại
qua những tờ thư cũ; về một đứa cháu nhỏ khi nó từ nước ngoài về thăm tôi lần đầu với những
cảm nhận đầu tiên về Việt Nam... Tôi viết, chỉ để thỏa đam mê cầm bút của mình, và cũng để các
con tôi sau này đọc lại mà thương mẹ hơn. Vậy thôi...
15 năm, tôi cứ ngồi viết như thế, không đầu không đuôi, nhớ gì viết nấy (chính vì vậy, trong tập
sách này, chắc chắn sẽ có nhiều sơ sót và đôi chỗ trùng lặp, lộn xộn về thời gian viết, mong được
bạn đọc tha thứ). Mười mấy cuốn sổ tay đã được tôi viết kín, và cứ để đó. Cho đến một hôm, thằng
con trai út của tôi (cũng bày đặt theo nghề viết văn, làm báo) đem về cho tôi đọc những cuốn hồi
ký của các ông Trần Văn Khê, Sơn Nam..., và thuyết phục tôi hãy cho in một phần những gì mà tôi
đã viết, để người đọc có thêm một ít tư liệu về một quãng thời gian lịch sử đã qua và chia sẻ đôi
điều với những tâm sự đời tôi, một người viết văn đã đóng góp ít nhiều trong đời sống văn chương
- báo chí của miền Nam Việt Nam trước 1975. Học trò tôi trong ngày họp mặt mừng sinh nhật tôi
đều ủng hộ đề nghị đó của nó. Rồi nhà xuất bản cũng đặt yêu cầu...
Cuối cùng các bạn đã có cuốn sách trên tay. Những gì tôi muốn nói, muốn kể với các bạn về
cuộc đời tôi, hầu như đã có đầy đủ trong những trang giấy này. Xin chân thành cảm ơn các bạn đã
dành thời gian quí báu để nghe tôi chuyện trò, tâm sự. Xin cảm ơn tất cả những người đã giúp tôi
sắp xếp, hoàn chỉnh bản thảo và giúp đỡ cho ra đời cuốn sách sau cùng này của đời tôi. Nhìn lại,
tôi thấy mình quả đã quá may mắn. Xin cảm ơn tất cả bạn đọc...
TP.HCM, ngày 1-8-2002
TÙNG LONG - LÊ THỊ BẠCH VÂN
CHƯƠNG 1:
Thời thơ ấu
Cha ơi! Hôm nay con đứng ở hành lang cư xá nhìn xuống sân thấy mấy đứa trẻ đang xúm nhau
dán diều, rồi sau đó chúng xách con diều giấy chạy qua chạy lại cho diều lấy đà để bay bổng lên
không, con bỗng nhớ cha vô hạn. Thời gian trôi qua mau quá cha nhỉ, mới đó mà đã 75 năm! Con
đã già, hơn tám mươi rồi, còn cha đã ra người thiên cổ từ lâu (cha mất năm Bính Thân - 1956).
Hồi con mới lên năm tuổi, cha từ Đà Nẵng đổi vào Tam Quan, một huyện miền biển của tỉnh
Bình Định. Mới năm tuổi nhưng con đã biết đọc biết viết do cha dạy. Suốt thời thơ ấu và niên thiếu
của con, cha luôn luôn là ông thầy nhân từ mà cũng rất nghiêm khắc. Với năm tuổi ấy, con được
cha dạy rất nhiều, nào những bài thơ dạy con của Nguyễn Trãi, những bài ca trù con thường nghe
cha đọc, cho đến những bài hát bộ mà khi hứng lên cha hát và phùng mang trợn mắt như một Lưu
Bị hay một Địch Thanh.
Mỗi sáng sớm, vào lúc năm giờ, con thường theo cha ra biển để thả diều ô. Diều của cha là một
con diều lớn, làm bằng những miếng tre vót kỹ, có hình thù một con chim, với đôi cánh dài và cái
đuôi như cánh quạt, được bồi bằng những tờ giấy màu thật đẹp. Hai cha con, cha đi trước cầm con
diều, con đi theo sau ngắm vầng thái dương mới ló dạng ở chân trời. Gió biển buổi sáng thật mát,
thật trong lành và mặc dù phải dậy sớm, trong khi mẹ còn ngủ với em, con vẫn tỉnh táo ngay và
chạy lạch bạch theo cha, lòng vô cùng thích thú.
- Cha ơi! Hôm nay trời mát quá cha nhỉ?
- Mau lên con, gió đang lên, diều sẽ bay cao...
***
Bãi biển với những cồn cát rất quen thuộc với tôi, nhưng mỗi ngày tôi mỗi khám phá ra một chuyện
gì đó rất mới mẻ để theo đuổi trong khi cha tôi đang điều khiển sợi dây cước cho diều lên, lên cao, lên
cao. Tôi đi tìm những ổ trứng của các con chim biển đẻ trên bãi cát. Chim chỉ cần bươi một cái hốc
cạn rồi đẻ. Có khi tôi lượm được ba trứng, có khi năm, và sau đó cắc ca cắc củm đem về luộc ăn. Có
khi tôi tìm thấy cả một đống trứng ba ba hay con vích, làm dấu để đó, không dám hốt, chờ khi cha tôi
cuốn dây cước, hạ diều xuống, hai cha con mới hốt về. Thế là được một bữa ăn lạ miệng. Khi không
tìm được trứng chim, tôi đi hái những trái ma vương chín ở các bụi gai mọc rải rác trên bãi biển, dưới
chân các nống cát. Trái ma vương có mùi thơm, ngọt ngọt, chua chua, ăn rất giòn và ngon hơn cả trái
sơ-ri. Gặp mùa, tôi hái bỏ đầy cả hai túi áo. Khi về, hai cha con vừa đi vừa ăn thật thích thú.
Cha tôi chỉ thả diều đến sáu giờ hơn, khi mặt trời đã lên khỏi chân trời và rọi sáng mặt biển, vì cha
tôi còn phải về ăn sáng rồi đi làm việc.
Sáng nào cũng vậy, nếu trời không mưa là cha con tôi đi thả diều. Những buổi sáng ấy là những
ngày đẹp đẽ nhất trong cuộc đời tôi, sau này và mãi mãi không bao giờ tôi tìm lại được.
Cha tôi làm thông phán ở Sở Thương chánh Tam Quan, ngày nay đó là công việc của một viên chức
hải quan lo chuyện xuất nhập của ghe thuyền. Sở nằm trên một ngọn đồi cao nhìn ra biển và nhà của
chúng tôi ở cách đó độ một cây số. Sở làm bằng bê-tông cốt sắt, còn ngôi nhà của cha tôi gồm ba gian
một chái, một bếp lợp tranh, nền xi măng, lát gạch, nằm giữa một ngôi vườn rộng và quay mặt ra sông,
quay lưng ra biển. Trước nhà là một con đường đất bằng phẳng chạy dài, một bên là dòng sông, một
bên là hàng dừa ngút ngàn. Ngoài cổng nhà là một giàn thiên lý, đêm đêm hoa tỏa mùi thơm cả xóm.
Cha tôi rất thích trồng cây, nhất là hồng, đủ thứ, đủ màu. Có lẽ vì cha tôi mạng thủy nên hễ cây cha
tôi trồng là tươi đẹp và rất lắm bông. Phần tưới cây là phần của tôi. Cha tôi mua cho tôi một cái đồ
tưới nhỏ, vừa với sức của tôi để tôi sáng và chiều tưới những chậu hồng nhung, những bụi tường vi
dọc rào và những chậu mẫu đơn. Cha tôi dạy tôi sử dụng cái bay để xới đất: “Phải xới đất để rễ cây
thở và cây xanh tươi”.
Cha tôi nói: “Hồng nhung là biểu hiện sự trung trực, hồng trắng là sự trinh bạch, còn hồng vàng là
sự phản bội”.
Tôi hỏi:
- Vậy tại sao cha trồng cả hồng vàng làm gì?
Cha tôi nói:
- Vườn hoa cũng như trường đời, có người trung trực, trinh bạch thì cũng có kẻ phản bội, vô ơn bạc
nghĩa... Ra đời phải biết phân biệt ai tốt ai xấu, con ạ.
Có lần tôi nói:
- Con thấy hoa mẫu đơn chả thơm tho gì, sao cha trồng làm gì vậy?
Cha tôi liền đọc:
Mẫu đơn thiên hạ xôn xao
Ham mùi phú quí biết bao nhiêu người
Rồi cha nói:
- Vườn hoa phải có nhiều loại, chả lẽ mình trồng toàn hồng cả sao? Huống chi mẹ con lại thích hoa
mẫu đơn để ngày rằm, ngày mồng một hái vào cúng Phật nên cha trồng.
Trong những lúc đi ra biển, cha tôi thường kể tôi nghe về cuộc đời của người.
Xuất thân từ một gia đình Nho giáo, học chữ Nho đến năm 12 tuổi, sau đó vì thời cuộc đổi thay nên
đổi sang học Quốc ngữ. Cũng như các thanh niên khác ở thời kỳ ấy, lòng yêu nước khiến họ do dự
trước khi bước chân vào đời. Những người có sĩ khí không chịu đi làm cho người Pháp, mặc dù đã
theo học ở các trường Pháp-Việt. Cha tôi là con trai duy nhất của gia đình. Ông nội tôi quê từ Nghệ An
trong một chuyến đi buôn vào Hội An, gặp bà nội tôi, rồi định cư ở đó. Ông nội tôi rất giỏi võ, mấy
đời các ông trong gia tộc đã làm quan võ dưới trướng ngài Lê Văn Duyệt. Đến đời ông nội tôi vì
không muốn làm cho Pháp, nên bỏ đi buôn với chiếc ghe bầu, từ Bắc chí Nam.
Bà nội tôi là một người đàn bà đảm đang và có tài nói năng hoạt bát, từ khi còn con gái đã buôn
bán giỏi có tiếng. Bà chuyên đón các ghe ngoài Bắc vào hay trong Nam ra cửa bể Hội An để mua cả
chuyến hàng trên ghe, như lúa gạo, hột vịt trong Nam, mạch nha, tương ngoài Bắc. Mua như vậy chỉ
cần nhắm hàng trả giá tổng quát, khi chủ ghe chịu thì bà đứng ra kêu các hiệu buôn bán lại. Xong đâu
đó mới nộp tiền cho chủ ghe, buôn lối ấy gọi là buôn kiểu đầu nậu.
Với cái nghề ấy bà tôi gặp ông tôi trong một chuyến ông tôi chở đường và tương từ Bắc vô Nam.
Và rồi người cảm tài, kẻ phục đức, hai bên đã xây tổ ấm ở một làng tên gọi Hội Sơn gần Bàng Thạch,
cách Hội An một buổi đò dọc.
Ông nội tôi ngày trước cũng như các cụ khoa bảng đều có chân trong các hội chống Pháp bằng cách
làm việc, dành dụm tiền đóng góp cho Hội để đưa người ra nước ngoài vận động cho phong trào
chống Pháp, hoặc để tìm thêm hội viên ở khắp các tỉnh miền Trung. Vì vậy cha tôi khi còn đi học đã
gia nhập phong trào Duy Tân, theo các bậc đàn anh làm chính trị, và sau khi học xong, cha tôi vẫn
không chịu đi làm cho Pháp. Khi bà tôi còn buôn bán, gia đình tuy không giàu có nhưng đủ ăn đủ xài,
việc cha tôi phải tìm kế sinh nhai bà tôi không quan tâm cho lắm. Khi còn buôn bán, bà tôi nổi tiếng là
người giàu lòng từ thiện. Mấy làng ở Hội An, như Hội Sơn, Bàng Thạch, chợ Nồi Rang..., không ai là
không biết tiếng bà Quyền. Cứ đến ngày mồng một và ngày rằm là bà tôi sai một người chú bà con của
tôi và cũng là người làm vườn, săn sóc nhà cửa cho bà tôi, nấu chè, nấu xôi múc ra, đĩa bát bày đầy cả
ba nong sắp giữa sân rồi kêu những người đi xin ở các chợ về ăn. Họ có thể kéo đến bất cứ giờ nào,
cứ tự tiện ngồi vào các chiếc chiếu trải ngoài sân và muốn ăn bao nhiêu cũng được. Cứ thế bà tôi đã
làm công việc từ thiện ấy suốt cả thời gian bà tôi còn ăn ra làm nên. Khi tôi còn nhỏ, mỗi lần theo cha
về thăm ông bà, tôi đã chứng kiến được cảnh ấy...
Nói đến chuyện đi thăm ông bà là cả một chuỗi dài kỷ niệm của một thời thơ ấu êm đềm vô giá.
Trước khi cha tôi vào làm ở Tam Quan, thời thơ ấu của tôi đã trải qua trên thành phố Đà Nẵng, bên
con sông Hàn, ở làng Trẹm của bờ biển Đà Nẵng.
Lúc ấy là lúc ông bà tôi gặp một chuyện tai biến, bao nhiêu tiền của đều mất sạch vì mấy chuyến
buôn bán thua lỗ, mà nguyên nhân chỉ tại chánh quyền Pháp nghi ngờ việc cha tôi gia nhập phong trào
Duy Tân.
Cha tôi là con trai duy nhất nên ông bà tôi rất e ngại bị mất cha tôi, vì thế cứ khóc lóc nài nỉ cha tôi
phải kiếm việc làm hợp tác với chánh phủ Pháp để khỏi bị tình nghi và theo dõi. Vì thế cha tôi phải ra
Đà Nẵng và cưới mẹ tôi tại đây. Đà Nẵng lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp. Không khí ở đây dễ thở
hơn các tỉnh thuộc quyền bảo hộ của Pháp. Các đồng chí đàn anh hiểu hoàn cảnh cha tôi nên khuyên
cha tôi xin làm cho một hãng buôn của Pháp, hãng Sica làm rượu, nấu rượu bán cho dân để dễ hoạt
động và cũng để che mắt bọn mật thám Tây. Ban đêm cha tôi còn ghi tên đi học với các lính Tây, bọn
này dạy cho cha tôi và không khỏi khen cha tôi có chí. Khi làm ở đây thì tôi ra đời, hoàn cảnh sinh
sống lại càng khó khăn, mà các đồng chí trong phong trào Duy Tân lại cứ bị theo dõi, nay kẻ này bị
bắt, mai kẻ khác bị kêu lên Sở Mật thám để điều tra.
Về chuyện này bà nội tôi hết sức lo nghĩ, tâm thần bất an nên sinh ra bệnh hoạn, công việc làm ăn
lại bị trở ngại. Ông nội tôi, với lai lịch ở Nghệ An, cái nôi của bao nhiêu cuộc nổi dậy chống Pháp, từ
chối không chịu làm cho các quan cai trị dưới chế độ Pháp thuộc, nên lúc nào cũng bị theo dõi. Đã
vậy ông tôi rất giỏi võ, một mình có thể đánh với một lũ cướp cả chục người nên lại càng bị nghi là
thuộc nhóm người võ trang chống Pháp. Bà tôi bệnh kéo dài trở thành viêm phổi mãn tính, phải cần
thuốc thang tĩnh dưỡng. Với mẫu vườn trồng khoai, bắp và mì, thêm mấy sào ruộng không đủ cho ông
bà tôi sống qua ngày, thế là cha tôi phải đi làm ở hãng Sica. Là một thanh niên có học, có tinh thần
trách nhiệm, liêm khiết, dù làm cho một hãng buôn Pháp cha tôi vẫn giữ sự ngay thẳng, làm việc siêng
năng cần mẫn, nhờ vậy ông chủ hãng mấy lần đã bênh vực cha tôi khi Sở Mật thám bí mật cho biết cha
tôi là một đồng chí của phong trào Duy Tân.
Mùa đông năm ấy, thời tiết ở Đà Nẵng rất xấu, lụt bão lung tung, nhà cha mẹ tôi ở ven bờ biển, làng
Trẹm, nên trong một trận lụt lớn đã ngập nước. Nước dâng lên cao, ngập cả sân nhà, tràn vô nhà, tràn
lên giường chiếu, lúc bấy giờ cha mẹ tôi lo dọn đồ đạc trong nhà mang vào hãng gởi. Chiếc nôi của tôi
treo trên cao, lúc ấy tôi mới năm, sáu tháng tuổi, không ai ngờ nước có thể lên đến, vả lại trong một
giờ đem đồ gởi xong trở về có ai nghĩ là nước sẽ dâng mau, lên đến nóc nhà hay ngập cả chiếc nôi
treo lơ lửng trên cột. Cũng may lúc bấy giờ một bác công nhân trong hãng được cha tôi nhờ chạy về
khuân đồ đạc bắt gặp nước đã liếm lên đáy nôi mà tôi thì cứ nằm yên ngon giấc. Bác công nhân này
vội vàng ôm tôi trùm trong chiếc áo mưa, bỏ cả đồ đạc lội về phía thành phố, cứu tôi khỏi bị nước
cuốn đi. Lúc bấy giờ cha mẹ tôi hoảng hốt nhớ lại chiếc nôi không biết nước có dâng cao hơn không,
vội vã chạy về thì dọc đường gặp bác công nhân đang ôm tôi vào lòng, chạy về hướng thành phố.
Thật hú hồn và ai cũng bảo là mạng tôi lớn, nếu không đã bị nước cuốn đi mất rồi. Sau này mỗi lần
gặp tôi, bác ấy thường nhìn tôi cười và nói:
- Không có bác thì nước lụt đã cuốn mất cháu đi rồi.
Lụt bão làm hư hại mùa màng, gây ảnh hưởng lớn ở các vùng nông thôn lân cận, vì vậy sự tiếp tế
cho các đảng viên cũng gặp nhiều khó khăn, không đủ tiền để nuôi các đồng chí trong tù, không có tiền
để giúp một số thành viên phong trào Duy Tân trốn ra nước ngoài và cũng không có tiền để một số cán
bộ nữ làm kinh tài. Trong khi làm việc ở hãng Sica, cha tôi đã xin vào Đảng Phục Hưng, lúc bấy giờ
do bác Phan Thành Tài phụ trách. Theo mẹ tôi kể lại thì mấy chú mấy bác đảng viên lấy nhà của cha
tôi làm chỗ liên lạc. Mỗi tháng bác Phan Thành Tài (cha của ông Phan Bá Lân và Phan Thuyết, Phan
Kình, Phan Út) mang tiền từ Quảng Nam ra giao cho cha tôi (do tánh cha tôi liêm khiết, cẩn thận, ngăn
nắp, kín đáo, nên Đảng đề nghị cha tôi giữ tiền, tức là làm thủ quỹ cho Đảng), sau đó có người đến lấy
để lo công việc tiếp tế cho đồng đội. Mẹ tôi nói, bác Thành Tài nhét tiền trong một cái ruột tượng dài
mang quanh người, ăn mặc rách rưới, đầu đội nón lá, đi bộ từ Quảng Nam ra, đi dọc theo đường rầy
xe lửa, ngụy trang như một người đi ăn xin ra tỉnh tìm việc làm. Các bác các chú mỗi lần đến gặp cha
tôi rất thương tôi, ẵm bồng nâng niu và không khỏi lo lắng cho cha tôi, e rằng công việc khó qua mắt
bọn Tây mật thám và tôi sẽ mất cha khi còn quá nhỏ. Những chú còn trẻ chưa lập gia đình, chưa có
con thì thương tôi như con. Các bác đã già như bác Tám Vận, bác Thành Tài thì con cái đã lớn, xem
cha tôi như em út và mỗi lần đến là nuông chìu tôi, cho quà cho bánh.
Thế rồi cuối năm Ất Mão, bác Thành Tài trong một chuyến đi liên lạc các nơi bị mật thám bắt. Bác
nhất định không chịu khai và bị kêu án tử hình. Việc này làm một số đồng chí phải trốn chui trốn nhủi.
Bác Tám Vận sai người bí mật bảo cha tôi phải cho mẹ tôi ẵm tôi về quê nội (Hội Sơn, một làng ở
cách Hội An hai giờ đò dọc) sống với ông bà nội tôi. Một mặt khác, các bác khuyên cha tôi thu xếp
nhà cửa gọn gàng đâu vào đó, như là nhà của một kẻ độc thân, bao nhiêu giấy tờ liên quan đến Hội,
danh sách các đồng chí đều đốt hết. Ban đêm ba tôi ôm sách đi học tiếng Pháp với tụi lính Tây trong
đồn như cũ, như không có chuyện gì xảy ra.
Khi mẹ tôi ẵm tôi về quê nội rồi thì cha tôi liền thủ tiêu hết tất cả giấy tờ quan trọng, dọn dẹp nhà
cửa gọn gàng. Trong khi ấy bác Tám Vận và nhiều bác khác bị bắt, bị tra tấn nhưng không ai khai ra
cha tôi. Tuy vậy, lính mật thám vẫn đến xét nhà cha tôi vì biết cha tôi có quen với bác Thành Tài. Tụi
nó lục lạo từ trên xuống dưới. Trần nhà, cống rãnh, bất cứ chỗ nào chúng nghi ngờ là lục lạo, nhưng
không thấy có gì đáng nghi ngờ cả. Tiền bạc thì cha tôi chỉ có năm ba đồng, sổ sách thì chỉ có tiền gởi
về nhà cho ông bà nội tôi, cùng tên thuốc men mua ở tiệm thuốc tây vì bà tôi bị suyễn. Tủ giường ngăn
nắp, giấy tờ đâu vào đấy, tụi nó đành kéo nhau về, còn nói với cha tôi: “Thật là một thanh niên có thứ
tự”. Không có chứng cớ, họ không bắt cha tôi. Nhờ vậy một số các chú các bác làm ở các cơ quan nhà
nước Pháp không bị bắt. Những bác bị bắt đều bị đày ra Côn Đảo lãnh án tù từ 10 năm đến 20 năm.
Tôi còn nhớ khi tôi học ở trường Đồng Khánh năm 1931, trong mùa hè niên học ấy bác Tám Vận được
thả về có đến thăm cha mẹ tôi và khi thấy tôi đã lớn, bác mừng rỡ cười nói om sòm, chỉ tôi và nói:
- Cái con nhỏ này hồi tụi tao tụ tập tại nhà ba mày thì mày mới có sáu, bảy tháng tuổi. Nếu không vì
mày, không thương cha mày là con một và mày là đứa cháu nội của dòng họ Lê thì tụi tao sau những
trận tra tấn xé thịt nát da đã khai cha mày rồi!
Thế là cha tôi khỏi bị tù đày nhưng điều này khiến cha tôi không khỏi áy náy trong lòng và lúc nào
cũng nghĩ là mình mang cái tình che chở của bao nhiêu người đã hy sinh, kẻ bị án tử hình như bác Phan
Thành Tài, bác Thái Phiên và còn bao nhiêu người bị đày ra Côn Đảo. Khi phong trào này êm dịu bớt,
mẹ tôi mới đưa tôi về Đà Nẵng sống với cha tôi.
Sống trong một gia đình như vậy làm sao tôi không chịu những ảnh hưởng của các bậc cha chú và
lẽ dĩ nhiên tôi lớn lên trong một bầu không khí có nhiều gương tốt đẹp, đáng noi theo. Tiếc vì tôi là
con gái mà ở vào xã hội ấy, xã hội bị đô hộ, bao nhiêu lớp người đã hy sinh, bao nhiêu đảng phái bị
tan rã, tôi cứ thường nghe các bậc cha chú than thở: “Các bác, các chú còn không làm được việc gì!
Các cháu là gái thôi thì cứ ráng lo học hành, học công dung ngôn hạnh. Ngay như các bác, các chú và
cả cha con phải tìm kế sanh nhai, phải đi làm công chức cho tụi Pháp. Các con của bác Phan Thành
Tài còn phải để cho bọn Tây giúp đỡ cho đi học”. Lúc ấy tôi nghĩ: Lớp người này làm không được thì
lớp người sau sẽ tiếp tục làm, miễn là tinh thần yêu nước, tinh thần bất khuất của Trần Hưng Đạo, Lê
Lợi, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, vẫn còn sống mãi trong đầu óc người dân Việt.
Còn bác Thành Tài khi bị kêu án tử hình thì người con trai lớn là anh Phan Bá Lân đang học ở
trường tiểu học Đà Nẵng hay Hội An gì đó. Mật thám can thiệp không cho anh học, buộc nhà trường
phải đuổi anh. Tôi cũng nghe các người làm ở Tòa Khâm sứ Huế kể lại, lúc ấy anh Phan Bá Lân tìm
gặp ông Khâm sứ và giận dữ nói: “On a tué mon père, et on a fermé l'école à moi!” (Người ta đã bắn
cha tôi, người ta còn đóng cửa trường với tôi!). Thấy thái độ phẫn nộ của anh Phan Bá Lân lúc ấy,
viên Khâm sứ tên là Chatel - nếu tôi nhớ không lầm - đã cho anh Phan Bá Lân học lại và cũng từ đó
giúp đỡ anh học cho đến thành tài. Có người còn nói anh Lân là con nuôi của Chatel. Việc ấy tôi không
biết có đúng không? Nhưng theo tôi hiểu thì anh Lân nhân cơ hội này học hành thành tài và cả đàn em
của anh người nào cũng có bằng cử nhân, bằng tú tài và cả các con của các anh này đều học rộng, tài
cao, hiện giờ một số vẫn làm nghề giáo. Sau này vào khoảng năm 1930, anh Lân mở trường tư thục
Chánh Thanh ở Sài Gòn và thu hút được nhiều giáo sư giỏi về dạy. Trong số ấy có ông Phan Khôi dạy
Việt và Hán văn. Anh Lân còn là bạn tâm giao của anh Hồng Tiêu, chồng tôi. Khi anh Hồng Tiêu cưới
tôi, anh Phan Bá Lân đã mừng ngày cưới chúng tôi cả một cái giường nệm có mùng theo kiểu Tây, một
cái gương to treo trên tường, và suốt những năm sống ở Sài Gòn chúng tôi vẫn gặp anh Lân rất thường.
Khi Nhật xâm chiếm Việt Nam và sau đó Mỹ thả bom ở Sài Gòn, năm 1943, tôi đưa các con về
Quảng Ngãi quê chồng, mất liên lạc với anh Phan Bá Lân. Sau Hiệp định Genève, tôi nghe tin anh
Phan Bá Lân ở ngoài Bắc và năm 1975, sau ngày thống nhất đất nước, tôi nghe tin anh Lân về Sài Gòn,
đôi mắt bị mù. Anh về trong Nam, nghe nói có nhờ người đi tìm nhà tôi và anh Bút Trà nhưng lúc ấy
Sài Gòn đang hồi bể dâu, nên chẳng ai dám chỉ, họ sợ mang vạ vào thân. Thành ra những người bạn
thân xa nhau những bao nhiêu năm vậy mà trước chuyện sống chết lại không có cơ hội để gặp nhau, để
cùng bắt tay nhau một lần chót. Thương tâm và cũng chua xót thật! Bây giờ khi tôi ngồi viết những
dòng này thì tất cả anh em Phan Bá Lân, Phan Kình, Phan Thuyết (cựu hiệu trưởng trường Đạt Đức ở
Phú Nhuận), Phan Út (cựu hiệu trưởng trường Tân Thịnh ở Tân Định) đều đã ra người thiên cổ.
Trở lại chuyện sau khi Đảng Phục Hưng bị bể bạc. Bà tôi khi nghe tin chuyện bọn Tây đến lục xét
nhà cha tôi và trong đường tơ kẽ tóc, cha tôi có thể bị bắt và bị đi đày thì đâm ra hoảng hốt, gọi cha tôi
về, thuyết đủ mọi cách, nào hăm dọa bị tù đày, bỏ vợ bỏ con không ai nuôi, nào cha mẹ già không chỗ
nương tựa. Lời nói không làm xiêu lòng cha tôi thì bà nội tôi lại lấy nước mắt để cha tôi phải nghe
theo. Ông tôi không hề nói gì vì ông xuất thân từ một tùy viên của ngài Lê Văn Duyệt, có văn, có võ,
không thể ngăn cản con mình vì nó cũng đi vào con đường mà mình đã trải qua. Nhưng ông tôi chỉ nói
là nếu không ai lo cho ông bà tôi trong lúc tuổi già bóng xế thì ông tôi sẽ trở về Nghệ An vì ngoài ấy
ông tôi có cả một đại gia đình có thể sống yên thân cho đến cuối cuộc đời. Nghe thế bà tôi càng khóc
lóc than thở: “Sắp mất con bây giờ lại còn sắp mất chồng”.
Thế là cha tôi trở lại với công việc ở hãng Sica. Nơi đây người chủ Tây rất mến nể cha tôi vì cha
tôi làm việc chuyên cần thanh liêm, công nhân trong hãng cũng rất yêu mến. Mấy lần cha tôi xin thôi
việc để thi vào một công sở không có liên quan gì nhiều đến việc chánh trị như là Bưu điện, Sở
Thương chánh, hay Phòng Thương mại, nhưng ông chủ hãng cứ cho lên lương mỗi lần cha tôi muốn
nghỉ, để giữ cha tôi lại. Cho đến khi cha tôi thi đậu vào Sở Thương chánh Đà Nẵng, làm ở làng Trẹm,
và sẵn có người chồng mới cưới của dì tôi, một nhân viên có tay nghề, biết đánh máy, chịu nhận công
việc của cha tôi thì ông sếp mới bằng lòng cho cha tôi nghỉ. Chuyện đổi việc làm này một phần do sức
ép của bà nội tôi, muốn con làm trong cơ quan nhà nước, có nhiều tiền hơn và có tương lai hơn.
Bà tôi hay tin này mới yên lòng và mẹ con tôi lại từ quê nội ra sống bên cha tôi. Thời gian này tôi
sống bên cha mẹ được hấp thụ sự dạy dỗ chu đáo và tình yêu thương vô bờ bến. Tôi mãi đến bốn tuổi
mới có em nên thời gian này được sự nuông chiều của cả cha mẹ lẫn ông bà nội ngoại.
Trong những năm tháng này tôi thường theo cha mỗi tuần về thăm ông bà nội tôi. Cứ chiều thứ bảy
cha tôi và tôi xuống ghe - đò dọc - ở sông Hàn để sáng lại về đến Hội An, qua Bàng Thạch về thăm
ông bà nội tôi. Một đêm trên sông nước, nhìn phong cảnh hai bên bờ sông, được cha tôi kể chuyện
sông nước, cuộc sống của những người chài lưới trên sông, và gặp những đêm sáng trăng thì tha hồ mà
ngắm cảnh đẹp, nghe tiếng hát của các cô gái chèo thuyền hát đối đáp với các chàng trai trên các chiếc
ghe khác cùng đi về một hướng hay đi ngược dòng sông. Những kỷ niệm ấy ngày nay tôi không còn làm
sao tìm thấy được, những kỷ niệm ấy vẫn sống mãi trong lòng tôi sau bao nhiêu vật đổi sao dời. Sáng
chủ nhật ghe cặp bến trước nhà ông bà tôi, cha tôi và tôi mang hành lý lên sống bên ông bà tôi suốt một
ngày, để tối lại có ghe đến rước. Rồi cũng suốt đêm trên cuộc phiêu lưu giữa sông dài, trời rộng, cho
đến năm giờ sáng thì đến bến chợ Hàn kịp để cha tôi về nhà ăn sáng rồi đi làm.
Với những chuyến đi ấy, tôi học được rất nhiều điều lạ, bổ ích mà các trẻ em ở tuổi ấy chưa chắc
đã biết. Nào cuộc sống của người mò cua bắt cá trong đêm, họ vừa làm việc vừa hát hò đối đáp,
dường như không thấy cái cảnh lấy đêm làm ngày nhọc nhằn, khổ sở. Nào những con đò xuôi ngược,
họ quen nhau vì thường gặp nhau trên đoạn đường này. Mỗi lần gặp nhau họ kêu ơi ới, chào hỏi vui vẻ.
Có ghe câu được cá liền ném qua cho các ghe chưa có gì để nấu buổi cơm tối cho khách trên ghe.
Thường thì chúng tôi được mời ăn cháo vào lúc 10 giờ đêm, gọi là ăn khuya, món cháo nấu với cá vừa
câu được, hay cua tôm mua lại của những người đi mò dưới sông. Sống ở thành phố, có biển, có hàng
phi lao vi vu của bãi tắm Đà Nẵng, có sông có núi, nay về quê được sống với những người nông dân
chân lấm tay bùn, cày sâu cuốc bẫm, trồng trọt quanh năm, tôi có thêm nhiều kiến thức. Tôi chứng kiến
những bữa cơm đạm bạc của họ. Một rổ rá cơm ghế khoai lang hay ghế bắp, thường thì khoai hay bắp
nhiều hơn gạo, với một tô mắm cá cơm đã mặn còn bỏ thêm một vốc muối, ít khi có rau, và chỉ có
những quả cà pháo bỏ trong mắm. Vậy mà người nào người nấy ăn rất ngon, có người ăn cả năm sáu
bát, khiến tôi cảm thấy chén cơm trắng của tôi mà bà nội tôi đã bỏ đầy cá thịt không còn ngon lành, trái
lại còn vô vị nữa là khác. Và tôi đã năn nỉ chú Đài của tôi, người bà con trong họ giúp việc cho ông
bà nội tôi, đổi chén cơm của tôi lấy một chén cơm trộn khoai hay bắp. Chú Đài không dám đổi mà
những người đến làm thuê cho ông bà tôi cũng không ai chịu đổi. Tôi năn nỉ mãi và cuối cùng rồi tôi
cũng đạt được ý muốn trẻ con ấy. Nhưng mà mấy người này khuyên tôi bưng cơm ra bụi tre bên bờ ao
mà ăn, đừng để ông bà tôi thấy. Ôi! Hồi đó tôi thấy chén cơm ghế khoai hay ghế bắp sao mà ngon đến
thế! Sau này khi tôi đưa các con tôi về Quảng Ngãi, rồi tản cư lên Mỹ Thịnh, vì đồng lương của tôi chỉ
đủ mua có hai mươi ngày gạo, đó là không nói đến thức ăn, tôi phải thêu may mướn mới có tiền mua
thịt cá. Còn mười ngày gạo kia phải thêm bắp hay khoai lang khô vào cơm. Mấy đứa con tôi chả đứa
nào chịu ăn bắp ăn khoai mà lừa lại, bới toàn cơm không.
Bà tôi bị suyễn, vì vậy mỗi lần cha tôi về đều có mang theo thuốc xông hạ cơn, trà Tàu cho ông tôi
và dầu bạc hà hiệu Khuất Thần cho bà tôi nữa. Ngoài ra còn có những thứ như lạp xưởng, giò lụa hay
khô bò, thịt chà bông mà mẹ tôi đã thức cả đêm trước để làm, bỏ vào các hũ, lọ.
Tôi còn nhớ có lần cha tôi tìm không ra loại thuốc suyễn dùng để xông cho hạ cơn nên khi về thiếu
món này thì bà tôi giận bắt cha tôi nằm xuống đánh mấy roi. Ôi! Giáo dục gia đình thật nghiêm khắc.
Bà tôi là người sâu sắc, ban ngày ban mặt mẹ tôi có làm gì lầm lỗi, không vừa ý thì bà chẳng bao giờ
rầy la ngay, chờ lúc đêm khuya thiên hạ hàng xóm đều an giấc, kẻ ăn người ở trong nhà ngủ yên, lúc ấy
mới kêu mẹ tôi dậy, bảo cha tôi cũng đứng một bên mẹ tôi để nghe bà tôi dạy bảo bổn phận làm dâu,
làm vợ.
Bà tôi có tánh sạch sẽ đến ai cũng phải nể. Nền nhà bằng đất, đâu phải nền gạch hay nền xi măng,
mà mỗi khi đặt chân xuống nghe có cát đất là bà tôi bắt chú Đài của tôi phải quét lại nhà. Bà tuy rất
thương tôi nhưng không hề bồng ẵm, chỉ vuốt tóc hay hôn nhẹ lên má tôi. Trên bờ ao ngoài vườn là một
bụi tre lớn rậm ...
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Lời giới thiệu
Vài lời thưa cùng bạn đọc
CHƯƠNG 1: Thời thơ ấu
CHƯƠNG 2: Những ngày tươi đẹp
CHƯƠNG 3: Đầu tiên và cuối cùng
CHƯƠNG 4: Vui buồn nghề văn - nghề báo
CHƯƠNG 5: Những kỷ niệm đáng nhớ trong khi giữ mục Gỡ Rối Tơ Lòng
CHƯƠNG 6: Không muốn làm chánh trị nhưng không thể thoát
PHỤ LỤC 1
Bùi Giáng và con tàu Hi Vọng
Tôi đã ăn cái Tết tuyệt vời nhất ở vùng Thạch Bích Tà Dương
Một bữa tiệc bất ngờ
PHỤ LỤC 2:
Gặp gỡ nhà văn lão thành Bà Tùng Long: “Viết là niềm vui lớn nhất đời tôi”[1]
Phảng phất hương trà cũ
Nguyễn Đức Thạch
Mây bay về trời
Lời giới thiệu
Người đọc ở thành phố trong Nam cuối những năm 50, suốt những năm 60 và đầu những năm
70 - trên dưới 20 năm - quen với cây bút của nhà văn, nhà báo nữ Tùng Long, thường ký kèm chữ
“Bà” ở trước tên. Bà Tùng Long nổi tiếng ở các truyện gọi là tâm lý xã hội, đăng trên các nhật
báo như một số loại phụ trương nhiều kỳ mà vào thời ấy gọi là “feuilleton”. Bà cũng nổi tiếng về
các mục giải đáp tâm sự của bạn đọc nữ trên các mục cố định của một số tờ báo hàng ngày hoặc
định kỳ. Tờ báo mà Bà Tùng Long có mặt thường xuyên hơn hết là Sàigòn Mới do bà Bút Trà, chị
dâu của chồng bà, làm chủ nhiệm.
Vào tuổi quá bát tuần, Bà Tùng Long viết hồi ký. Đương nhiên, hồi ký của một cây bút thì có
chuyện văn chương, chuyện viết lách. Song, tôi tìm thấy trong hồi ký của bà những nét đậm lạt của
một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của đất nước ta, của miền Nam, chủ yếu của Sài Gòn, nơi
quy tụ những sự kiện lớn của vùng đất mà cách mạng nối tiếp công việc chưa xong của mình, đối
mặt với chính quyền do Mỹ dựng lên. Bà Tùng Long không phải là nhà chính trị, ít nhất, như bà
nói trong hồi ký. Tuy nhiên, hồi ký của Bà Tùng Long vẫn là một hồi ký không loại bỏ được các nền
chính trị đương nhiên tác động lên bà. Bà Tùng Long cũng không phải là nhà văn, nhà báo cách
mạng, bà viết, như đã nhắc tới nhắc lui trong hồi ký, là để kiếm tiền nuôi chín đứa con và người
chồng, song bà không đứng trong hàng ngũ “cách mạng quốc gia” hay “cần lao nhân vị” hoặc đại
loại như vậy, dù rằng, về phương diện giao thiệp, bà quan hệ với những nhân vật thuộc chính
quyền. Bà cũng từng ứng cử nghị viện Sài Gòn vào thời cuối của triều đình Ngô Đình Diệm không tự nguyện, không thích, nhưng không thể từ chối.
Anh Lê Phương Chi đã lên danh mục tất cả 50 đầu sách của bà từ năm 1956 đến nay, trong đó
có 16 đầu sách tái bản và in mới sau năm 1975 - tôi chỉ nói những tiểu thuyết đã xuất bản thành
sách mà hầu hết được đăng tải trên các báo. Tôi cũng không nói về nội dung những mục như Gỡ
Rối Tơ Lòng, Tâm Tình Cởi Mở hay đường hướng của những tờ báo mà bà làm chủ bút, thư ký tòa
soạn, hay cộng tác viên, tôi làm một công việc đơn giản hơn - giới thiệu hồi ký của bà.
Tập hồi ký chia làm 6 chương thì 3 chương đầu nói về thời niên thiếu, tuổi học sinh và mối tình
đầu của bà, 3 chương sau thuật lại quãng đời viết văn, làm báo. Nếu 3 chương đầu giúp cho người
đọc hôm nay nhớ lại một thời miền Trung nước ta từ Đà Nẵng ra Huế rồi trở vào Tam Quan những
năm 20 và 30 của thế kỷ XX ở Sài Gòn, thì phần sau lại giới thiệu với người đọc một góc của
khung cảnh với ký ức văn nghệ Sài Gòn sau Hiệp định Genève. Sách báo hiện nay vẫn còn tương
đối hiếm về khung cảnh sinh hoạt những thời điểm vừa kể. Tuy Bà Tùng Long không chủ yếu làm
sống lại một cách đầy đủ khung cảnh ấy nhưng vẫn giúp cho chúng ta hình dung được chừng nào
hoàn cảnh của đất nước mình.
Người đọc có thể còn mong muốn Bà Tùng Long nói nhiều hơn những gì bà thấy, bà nghe trong
một xã hội chuyển động nhanh chóng, thậm chí không có quy củ, nhưng bà chỉ cung cấp chừng ấy
thôi, ta không thể đòi hỏi hơn.
Tôi vui lòng viết mấy lời giới thiệu tập hồi ký của Bà Tùng Long.
TRẦN BẠCH ĐẰNG
(12-2002)
Vài lời thưa cùng bạn đọc
Năm 1985, sau khi nhà tôi bỏ tôi đi trước, cuộc sống của tôi trở nên quá trống vắng, thừa thãi.
Các con đều đã lớn, có gia đình riêng, một số lại ra sống ở nước ngoài... Ngồi buồn, tôi lấy giấy
bút ra ghi lại những kỷ niệm ngày trước của mình, vì thật sự từ nhỏ tôi đã có thói quen và sở thích
viết lách, đến giờ - tôi ngồi cầm bút viết những dòng này vào đúng ngày sinh nhật 88 tuổi - vẫn
không thay đổi. Thoạt đầu, tôi không dám gọi đây là hồi ký, mà chỉ là những bài ghi chép, theo
những hồi ức và cảm hứng bất chợt, mỗi khi được nhắc nhớ một điều gì. Tôi viết về cha tôi, trong
đám giỗ của người; về nhà tôi - anh rất thường về thăm tôi trong những giấc mơ; về một người
bạn cũ, khi đọc được tin người ấy qua đời (hàng ngày tôi vẫn còn đọc đủ các báo, nghe đài, thói
quen không thể bỏ được từ thời làm báo); về những học trò cũ của tôi mà tình cảm của các em
dành cho tôi thật đáng trân trọng; về những kỷ niệm với bạn đọc mà thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ lại
qua những tờ thư cũ; về một đứa cháu nhỏ khi nó từ nước ngoài về thăm tôi lần đầu với những
cảm nhận đầu tiên về Việt Nam... Tôi viết, chỉ để thỏa đam mê cầm bút của mình, và cũng để các
con tôi sau này đọc lại mà thương mẹ hơn. Vậy thôi...
15 năm, tôi cứ ngồi viết như thế, không đầu không đuôi, nhớ gì viết nấy (chính vì vậy, trong tập
sách này, chắc chắn sẽ có nhiều sơ sót và đôi chỗ trùng lặp, lộn xộn về thời gian viết, mong được
bạn đọc tha thứ). Mười mấy cuốn sổ tay đã được tôi viết kín, và cứ để đó. Cho đến một hôm, thằng
con trai út của tôi (cũng bày đặt theo nghề viết văn, làm báo) đem về cho tôi đọc những cuốn hồi
ký của các ông Trần Văn Khê, Sơn Nam..., và thuyết phục tôi hãy cho in một phần những gì mà tôi
đã viết, để người đọc có thêm một ít tư liệu về một quãng thời gian lịch sử đã qua và chia sẻ đôi
điều với những tâm sự đời tôi, một người viết văn đã đóng góp ít nhiều trong đời sống văn chương
- báo chí của miền Nam Việt Nam trước 1975. Học trò tôi trong ngày họp mặt mừng sinh nhật tôi
đều ủng hộ đề nghị đó của nó. Rồi nhà xuất bản cũng đặt yêu cầu...
Cuối cùng các bạn đã có cuốn sách trên tay. Những gì tôi muốn nói, muốn kể với các bạn về
cuộc đời tôi, hầu như đã có đầy đủ trong những trang giấy này. Xin chân thành cảm ơn các bạn đã
dành thời gian quí báu để nghe tôi chuyện trò, tâm sự. Xin cảm ơn tất cả những người đã giúp tôi
sắp xếp, hoàn chỉnh bản thảo và giúp đỡ cho ra đời cuốn sách sau cùng này của đời tôi. Nhìn lại,
tôi thấy mình quả đã quá may mắn. Xin cảm ơn tất cả bạn đọc...
TP.HCM, ngày 1-8-2002
TÙNG LONG - LÊ THỊ BẠCH VÂN
CHƯƠNG 1:
Thời thơ ấu
Cha ơi! Hôm nay con đứng ở hành lang cư xá nhìn xuống sân thấy mấy đứa trẻ đang xúm nhau
dán diều, rồi sau đó chúng xách con diều giấy chạy qua chạy lại cho diều lấy đà để bay bổng lên
không, con bỗng nhớ cha vô hạn. Thời gian trôi qua mau quá cha nhỉ, mới đó mà đã 75 năm! Con
đã già, hơn tám mươi rồi, còn cha đã ra người thiên cổ từ lâu (cha mất năm Bính Thân - 1956).
Hồi con mới lên năm tuổi, cha từ Đà Nẵng đổi vào Tam Quan, một huyện miền biển của tỉnh
Bình Định. Mới năm tuổi nhưng con đã biết đọc biết viết do cha dạy. Suốt thời thơ ấu và niên thiếu
của con, cha luôn luôn là ông thầy nhân từ mà cũng rất nghiêm khắc. Với năm tuổi ấy, con được
cha dạy rất nhiều, nào những bài thơ dạy con của Nguyễn Trãi, những bài ca trù con thường nghe
cha đọc, cho đến những bài hát bộ mà khi hứng lên cha hát và phùng mang trợn mắt như một Lưu
Bị hay một Địch Thanh.
Mỗi sáng sớm, vào lúc năm giờ, con thường theo cha ra biển để thả diều ô. Diều của cha là một
con diều lớn, làm bằng những miếng tre vót kỹ, có hình thù một con chim, với đôi cánh dài và cái
đuôi như cánh quạt, được bồi bằng những tờ giấy màu thật đẹp. Hai cha con, cha đi trước cầm con
diều, con đi theo sau ngắm vầng thái dương mới ló dạng ở chân trời. Gió biển buổi sáng thật mát,
thật trong lành và mặc dù phải dậy sớm, trong khi mẹ còn ngủ với em, con vẫn tỉnh táo ngay và
chạy lạch bạch theo cha, lòng vô cùng thích thú.
- Cha ơi! Hôm nay trời mát quá cha nhỉ?
- Mau lên con, gió đang lên, diều sẽ bay cao...
***
Bãi biển với những cồn cát rất quen thuộc với tôi, nhưng mỗi ngày tôi mỗi khám phá ra một chuyện
gì đó rất mới mẻ để theo đuổi trong khi cha tôi đang điều khiển sợi dây cước cho diều lên, lên cao, lên
cao. Tôi đi tìm những ổ trứng của các con chim biển đẻ trên bãi cát. Chim chỉ cần bươi một cái hốc
cạn rồi đẻ. Có khi tôi lượm được ba trứng, có khi năm, và sau đó cắc ca cắc củm đem về luộc ăn. Có
khi tôi tìm thấy cả một đống trứng ba ba hay con vích, làm dấu để đó, không dám hốt, chờ khi cha tôi
cuốn dây cước, hạ diều xuống, hai cha con mới hốt về. Thế là được một bữa ăn lạ miệng. Khi không
tìm được trứng chim, tôi đi hái những trái ma vương chín ở các bụi gai mọc rải rác trên bãi biển, dưới
chân các nống cát. Trái ma vương có mùi thơm, ngọt ngọt, chua chua, ăn rất giòn và ngon hơn cả trái
sơ-ri. Gặp mùa, tôi hái bỏ đầy cả hai túi áo. Khi về, hai cha con vừa đi vừa ăn thật thích thú.
Cha tôi chỉ thả diều đến sáu giờ hơn, khi mặt trời đã lên khỏi chân trời và rọi sáng mặt biển, vì cha
tôi còn phải về ăn sáng rồi đi làm việc.
Sáng nào cũng vậy, nếu trời không mưa là cha con tôi đi thả diều. Những buổi sáng ấy là những
ngày đẹp đẽ nhất trong cuộc đời tôi, sau này và mãi mãi không bao giờ tôi tìm lại được.
Cha tôi làm thông phán ở Sở Thương chánh Tam Quan, ngày nay đó là công việc của một viên chức
hải quan lo chuyện xuất nhập của ghe thuyền. Sở nằm trên một ngọn đồi cao nhìn ra biển và nhà của
chúng tôi ở cách đó độ một cây số. Sở làm bằng bê-tông cốt sắt, còn ngôi nhà của cha tôi gồm ba gian
một chái, một bếp lợp tranh, nền xi măng, lát gạch, nằm giữa một ngôi vườn rộng và quay mặt ra sông,
quay lưng ra biển. Trước nhà là một con đường đất bằng phẳng chạy dài, một bên là dòng sông, một
bên là hàng dừa ngút ngàn. Ngoài cổng nhà là một giàn thiên lý, đêm đêm hoa tỏa mùi thơm cả xóm.
Cha tôi rất thích trồng cây, nhất là hồng, đủ thứ, đủ màu. Có lẽ vì cha tôi mạng thủy nên hễ cây cha
tôi trồng là tươi đẹp và rất lắm bông. Phần tưới cây là phần của tôi. Cha tôi mua cho tôi một cái đồ
tưới nhỏ, vừa với sức của tôi để tôi sáng và chiều tưới những chậu hồng nhung, những bụi tường vi
dọc rào và những chậu mẫu đơn. Cha tôi dạy tôi sử dụng cái bay để xới đất: “Phải xới đất để rễ cây
thở và cây xanh tươi”.
Cha tôi nói: “Hồng nhung là biểu hiện sự trung trực, hồng trắng là sự trinh bạch, còn hồng vàng là
sự phản bội”.
Tôi hỏi:
- Vậy tại sao cha trồng cả hồng vàng làm gì?
Cha tôi nói:
- Vườn hoa cũng như trường đời, có người trung trực, trinh bạch thì cũng có kẻ phản bội, vô ơn bạc
nghĩa... Ra đời phải biết phân biệt ai tốt ai xấu, con ạ.
Có lần tôi nói:
- Con thấy hoa mẫu đơn chả thơm tho gì, sao cha trồng làm gì vậy?
Cha tôi liền đọc:
Mẫu đơn thiên hạ xôn xao
Ham mùi phú quí biết bao nhiêu người
Rồi cha nói:
- Vườn hoa phải có nhiều loại, chả lẽ mình trồng toàn hồng cả sao? Huống chi mẹ con lại thích hoa
mẫu đơn để ngày rằm, ngày mồng một hái vào cúng Phật nên cha trồng.
Trong những lúc đi ra biển, cha tôi thường kể tôi nghe về cuộc đời của người.
Xuất thân từ một gia đình Nho giáo, học chữ Nho đến năm 12 tuổi, sau đó vì thời cuộc đổi thay nên
đổi sang học Quốc ngữ. Cũng như các thanh niên khác ở thời kỳ ấy, lòng yêu nước khiến họ do dự
trước khi bước chân vào đời. Những người có sĩ khí không chịu đi làm cho người Pháp, mặc dù đã
theo học ở các trường Pháp-Việt. Cha tôi là con trai duy nhất của gia đình. Ông nội tôi quê từ Nghệ An
trong một chuyến đi buôn vào Hội An, gặp bà nội tôi, rồi định cư ở đó. Ông nội tôi rất giỏi võ, mấy
đời các ông trong gia tộc đã làm quan võ dưới trướng ngài Lê Văn Duyệt. Đến đời ông nội tôi vì
không muốn làm cho Pháp, nên bỏ đi buôn với chiếc ghe bầu, từ Bắc chí Nam.
Bà nội tôi là một người đàn bà đảm đang và có tài nói năng hoạt bát, từ khi còn con gái đã buôn
bán giỏi có tiếng. Bà chuyên đón các ghe ngoài Bắc vào hay trong Nam ra cửa bể Hội An để mua cả
chuyến hàng trên ghe, như lúa gạo, hột vịt trong Nam, mạch nha, tương ngoài Bắc. Mua như vậy chỉ
cần nhắm hàng trả giá tổng quát, khi chủ ghe chịu thì bà đứng ra kêu các hiệu buôn bán lại. Xong đâu
đó mới nộp tiền cho chủ ghe, buôn lối ấy gọi là buôn kiểu đầu nậu.
Với cái nghề ấy bà tôi gặp ông tôi trong một chuyến ông tôi chở đường và tương từ Bắc vô Nam.
Và rồi người cảm tài, kẻ phục đức, hai bên đã xây tổ ấm ở một làng tên gọi Hội Sơn gần Bàng Thạch,
cách Hội An một buổi đò dọc.
Ông nội tôi ngày trước cũng như các cụ khoa bảng đều có chân trong các hội chống Pháp bằng cách
làm việc, dành dụm tiền đóng góp cho Hội để đưa người ra nước ngoài vận động cho phong trào
chống Pháp, hoặc để tìm thêm hội viên ở khắp các tỉnh miền Trung. Vì vậy cha tôi khi còn đi học đã
gia nhập phong trào Duy Tân, theo các bậc đàn anh làm chính trị, và sau khi học xong, cha tôi vẫn
không chịu đi làm cho Pháp. Khi bà tôi còn buôn bán, gia đình tuy không giàu có nhưng đủ ăn đủ xài,
việc cha tôi phải tìm kế sinh nhai bà tôi không quan tâm cho lắm. Khi còn buôn bán, bà tôi nổi tiếng là
người giàu lòng từ thiện. Mấy làng ở Hội An, như Hội Sơn, Bàng Thạch, chợ Nồi Rang..., không ai là
không biết tiếng bà Quyền. Cứ đến ngày mồng một và ngày rằm là bà tôi sai một người chú bà con của
tôi và cũng là người làm vườn, săn sóc nhà cửa cho bà tôi, nấu chè, nấu xôi múc ra, đĩa bát bày đầy cả
ba nong sắp giữa sân rồi kêu những người đi xin ở các chợ về ăn. Họ có thể kéo đến bất cứ giờ nào,
cứ tự tiện ngồi vào các chiếc chiếu trải ngoài sân và muốn ăn bao nhiêu cũng được. Cứ thế bà tôi đã
làm công việc từ thiện ấy suốt cả thời gian bà tôi còn ăn ra làm nên. Khi tôi còn nhỏ, mỗi lần theo cha
về thăm ông bà, tôi đã chứng kiến được cảnh ấy...
Nói đến chuyện đi thăm ông bà là cả một chuỗi dài kỷ niệm của một thời thơ ấu êm đềm vô giá.
Trước khi cha tôi vào làm ở Tam Quan, thời thơ ấu của tôi đã trải qua trên thành phố Đà Nẵng, bên
con sông Hàn, ở làng Trẹm của bờ biển Đà Nẵng.
Lúc ấy là lúc ông bà tôi gặp một chuyện tai biến, bao nhiêu tiền của đều mất sạch vì mấy chuyến
buôn bán thua lỗ, mà nguyên nhân chỉ tại chánh quyền Pháp nghi ngờ việc cha tôi gia nhập phong trào
Duy Tân.
Cha tôi là con trai duy nhất nên ông bà tôi rất e ngại bị mất cha tôi, vì thế cứ khóc lóc nài nỉ cha tôi
phải kiếm việc làm hợp tác với chánh phủ Pháp để khỏi bị tình nghi và theo dõi. Vì thế cha tôi phải ra
Đà Nẵng và cưới mẹ tôi tại đây. Đà Nẵng lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp. Không khí ở đây dễ thở
hơn các tỉnh thuộc quyền bảo hộ của Pháp. Các đồng chí đàn anh hiểu hoàn cảnh cha tôi nên khuyên
cha tôi xin làm cho một hãng buôn của Pháp, hãng Sica làm rượu, nấu rượu bán cho dân để dễ hoạt
động và cũng để che mắt bọn mật thám Tây. Ban đêm cha tôi còn ghi tên đi học với các lính Tây, bọn
này dạy cho cha tôi và không khỏi khen cha tôi có chí. Khi làm ở đây thì tôi ra đời, hoàn cảnh sinh
sống lại càng khó khăn, mà các đồng chí trong phong trào Duy Tân lại cứ bị theo dõi, nay kẻ này bị
bắt, mai kẻ khác bị kêu lên Sở Mật thám để điều tra.
Về chuyện này bà nội tôi hết sức lo nghĩ, tâm thần bất an nên sinh ra bệnh hoạn, công việc làm ăn
lại bị trở ngại. Ông nội tôi, với lai lịch ở Nghệ An, cái nôi của bao nhiêu cuộc nổi dậy chống Pháp, từ
chối không chịu làm cho các quan cai trị dưới chế độ Pháp thuộc, nên lúc nào cũng bị theo dõi. Đã
vậy ông tôi rất giỏi võ, một mình có thể đánh với một lũ cướp cả chục người nên lại càng bị nghi là
thuộc nhóm người võ trang chống Pháp. Bà tôi bệnh kéo dài trở thành viêm phổi mãn tính, phải cần
thuốc thang tĩnh dưỡng. Với mẫu vườn trồng khoai, bắp và mì, thêm mấy sào ruộng không đủ cho ông
bà tôi sống qua ngày, thế là cha tôi phải đi làm ở hãng Sica. Là một thanh niên có học, có tinh thần
trách nhiệm, liêm khiết, dù làm cho một hãng buôn Pháp cha tôi vẫn giữ sự ngay thẳng, làm việc siêng
năng cần mẫn, nhờ vậy ông chủ hãng mấy lần đã bênh vực cha tôi khi Sở Mật thám bí mật cho biết cha
tôi là một đồng chí của phong trào Duy Tân.
Mùa đông năm ấy, thời tiết ở Đà Nẵng rất xấu, lụt bão lung tung, nhà cha mẹ tôi ở ven bờ biển, làng
Trẹm, nên trong một trận lụt lớn đã ngập nước. Nước dâng lên cao, ngập cả sân nhà, tràn vô nhà, tràn
lên giường chiếu, lúc bấy giờ cha mẹ tôi lo dọn đồ đạc trong nhà mang vào hãng gởi. Chiếc nôi của tôi
treo trên cao, lúc ấy tôi mới năm, sáu tháng tuổi, không ai ngờ nước có thể lên đến, vả lại trong một
giờ đem đồ gởi xong trở về có ai nghĩ là nước sẽ dâng mau, lên đến nóc nhà hay ngập cả chiếc nôi
treo lơ lửng trên cột. Cũng may lúc bấy giờ một bác công nhân trong hãng được cha tôi nhờ chạy về
khuân đồ đạc bắt gặp nước đã liếm lên đáy nôi mà tôi thì cứ nằm yên ngon giấc. Bác công nhân này
vội vàng ôm tôi trùm trong chiếc áo mưa, bỏ cả đồ đạc lội về phía thành phố, cứu tôi khỏi bị nước
cuốn đi. Lúc bấy giờ cha mẹ tôi hoảng hốt nhớ lại chiếc nôi không biết nước có dâng cao hơn không,
vội vã chạy về thì dọc đường gặp bác công nhân đang ôm tôi vào lòng, chạy về hướng thành phố.
Thật hú hồn và ai cũng bảo là mạng tôi lớn, nếu không đã bị nước cuốn đi mất rồi. Sau này mỗi lần
gặp tôi, bác ấy thường nhìn tôi cười và nói:
- Không có bác thì nước lụt đã cuốn mất cháu đi rồi.
Lụt bão làm hư hại mùa màng, gây ảnh hưởng lớn ở các vùng nông thôn lân cận, vì vậy sự tiếp tế
cho các đảng viên cũng gặp nhiều khó khăn, không đủ tiền để nuôi các đồng chí trong tù, không có tiền
để giúp một số thành viên phong trào Duy Tân trốn ra nước ngoài và cũng không có tiền để một số cán
bộ nữ làm kinh tài. Trong khi làm việc ở hãng Sica, cha tôi đã xin vào Đảng Phục Hưng, lúc bấy giờ
do bác Phan Thành Tài phụ trách. Theo mẹ tôi kể lại thì mấy chú mấy bác đảng viên lấy nhà của cha
tôi làm chỗ liên lạc. Mỗi tháng bác Phan Thành Tài (cha của ông Phan Bá Lân và Phan Thuyết, Phan
Kình, Phan Út) mang tiền từ Quảng Nam ra giao cho cha tôi (do tánh cha tôi liêm khiết, cẩn thận, ngăn
nắp, kín đáo, nên Đảng đề nghị cha tôi giữ tiền, tức là làm thủ quỹ cho Đảng), sau đó có người đến lấy
để lo công việc tiếp tế cho đồng đội. Mẹ tôi nói, bác Thành Tài nhét tiền trong một cái ruột tượng dài
mang quanh người, ăn mặc rách rưới, đầu đội nón lá, đi bộ từ Quảng Nam ra, đi dọc theo đường rầy
xe lửa, ngụy trang như một người đi ăn xin ra tỉnh tìm việc làm. Các bác các chú mỗi lần đến gặp cha
tôi rất thương tôi, ẵm bồng nâng niu và không khỏi lo lắng cho cha tôi, e rằng công việc khó qua mắt
bọn Tây mật thám và tôi sẽ mất cha khi còn quá nhỏ. Những chú còn trẻ chưa lập gia đình, chưa có
con thì thương tôi như con. Các bác đã già như bác Tám Vận, bác Thành Tài thì con cái đã lớn, xem
cha tôi như em út và mỗi lần đến là nuông chìu tôi, cho quà cho bánh.
Thế rồi cuối năm Ất Mão, bác Thành Tài trong một chuyến đi liên lạc các nơi bị mật thám bắt. Bác
nhất định không chịu khai và bị kêu án tử hình. Việc này làm một số đồng chí phải trốn chui trốn nhủi.
Bác Tám Vận sai người bí mật bảo cha tôi phải cho mẹ tôi ẵm tôi về quê nội (Hội Sơn, một làng ở
cách Hội An hai giờ đò dọc) sống với ông bà nội tôi. Một mặt khác, các bác khuyên cha tôi thu xếp
nhà cửa gọn gàng đâu vào đó, như là nhà của một kẻ độc thân, bao nhiêu giấy tờ liên quan đến Hội,
danh sách các đồng chí đều đốt hết. Ban đêm ba tôi ôm sách đi học tiếng Pháp với tụi lính Tây trong
đồn như cũ, như không có chuyện gì xảy ra.
Khi mẹ tôi ẵm tôi về quê nội rồi thì cha tôi liền thủ tiêu hết tất cả giấy tờ quan trọng, dọn dẹp nhà
cửa gọn gàng. Trong khi ấy bác Tám Vận và nhiều bác khác bị bắt, bị tra tấn nhưng không ai khai ra
cha tôi. Tuy vậy, lính mật thám vẫn đến xét nhà cha tôi vì biết cha tôi có quen với bác Thành Tài. Tụi
nó lục lạo từ trên xuống dưới. Trần nhà, cống rãnh, bất cứ chỗ nào chúng nghi ngờ là lục lạo, nhưng
không thấy có gì đáng nghi ngờ cả. Tiền bạc thì cha tôi chỉ có năm ba đồng, sổ sách thì chỉ có tiền gởi
về nhà cho ông bà nội tôi, cùng tên thuốc men mua ở tiệm thuốc tây vì bà tôi bị suyễn. Tủ giường ngăn
nắp, giấy tờ đâu vào đấy, tụi nó đành kéo nhau về, còn nói với cha tôi: “Thật là một thanh niên có thứ
tự”. Không có chứng cớ, họ không bắt cha tôi. Nhờ vậy một số các chú các bác làm ở các cơ quan nhà
nước Pháp không bị bắt. Những bác bị bắt đều bị đày ra Côn Đảo lãnh án tù từ 10 năm đến 20 năm.
Tôi còn nhớ khi tôi học ở trường Đồng Khánh năm 1931, trong mùa hè niên học ấy bác Tám Vận được
thả về có đến thăm cha mẹ tôi và khi thấy tôi đã lớn, bác mừng rỡ cười nói om sòm, chỉ tôi và nói:
- Cái con nhỏ này hồi tụi tao tụ tập tại nhà ba mày thì mày mới có sáu, bảy tháng tuổi. Nếu không vì
mày, không thương cha mày là con một và mày là đứa cháu nội của dòng họ Lê thì tụi tao sau những
trận tra tấn xé thịt nát da đã khai cha mày rồi!
Thế là cha tôi khỏi bị tù đày nhưng điều này khiến cha tôi không khỏi áy náy trong lòng và lúc nào
cũng nghĩ là mình mang cái tình che chở của bao nhiêu người đã hy sinh, kẻ bị án tử hình như bác Phan
Thành Tài, bác Thái Phiên và còn bao nhiêu người bị đày ra Côn Đảo. Khi phong trào này êm dịu bớt,
mẹ tôi mới đưa tôi về Đà Nẵng sống với cha tôi.
Sống trong một gia đình như vậy làm sao tôi không chịu những ảnh hưởng của các bậc cha chú và
lẽ dĩ nhiên tôi lớn lên trong một bầu không khí có nhiều gương tốt đẹp, đáng noi theo. Tiếc vì tôi là
con gái mà ở vào xã hội ấy, xã hội bị đô hộ, bao nhiêu lớp người đã hy sinh, bao nhiêu đảng phái bị
tan rã, tôi cứ thường nghe các bậc cha chú than thở: “Các bác, các chú còn không làm được việc gì!
Các cháu là gái thôi thì cứ ráng lo học hành, học công dung ngôn hạnh. Ngay như các bác, các chú và
cả cha con phải tìm kế sanh nhai, phải đi làm công chức cho tụi Pháp. Các con của bác Phan Thành
Tài còn phải để cho bọn Tây giúp đỡ cho đi học”. Lúc ấy tôi nghĩ: Lớp người này làm không được thì
lớp người sau sẽ tiếp tục làm, miễn là tinh thần yêu nước, tinh thần bất khuất của Trần Hưng Đạo, Lê
Lợi, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, vẫn còn sống mãi trong đầu óc người dân Việt.
Còn bác Thành Tài khi bị kêu án tử hình thì người con trai lớn là anh Phan Bá Lân đang học ở
trường tiểu học Đà Nẵng hay Hội An gì đó. Mật thám can thiệp không cho anh học, buộc nhà trường
phải đuổi anh. Tôi cũng nghe các người làm ở Tòa Khâm sứ Huế kể lại, lúc ấy anh Phan Bá Lân tìm
gặp ông Khâm sứ và giận dữ nói: “On a tué mon père, et on a fermé l'école à moi!” (Người ta đã bắn
cha tôi, người ta còn đóng cửa trường với tôi!). Thấy thái độ phẫn nộ của anh Phan Bá Lân lúc ấy,
viên Khâm sứ tên là Chatel - nếu tôi nhớ không lầm - đã cho anh Phan Bá Lân học lại và cũng từ đó
giúp đỡ anh học cho đến thành tài. Có người còn nói anh Lân là con nuôi của Chatel. Việc ấy tôi không
biết có đúng không? Nhưng theo tôi hiểu thì anh Lân nhân cơ hội này học hành thành tài và cả đàn em
của anh người nào cũng có bằng cử nhân, bằng tú tài và cả các con của các anh này đều học rộng, tài
cao, hiện giờ một số vẫn làm nghề giáo. Sau này vào khoảng năm 1930, anh Lân mở trường tư thục
Chánh Thanh ở Sài Gòn và thu hút được nhiều giáo sư giỏi về dạy. Trong số ấy có ông Phan Khôi dạy
Việt và Hán văn. Anh Lân còn là bạn tâm giao của anh Hồng Tiêu, chồng tôi. Khi anh Hồng Tiêu cưới
tôi, anh Phan Bá Lân đã mừng ngày cưới chúng tôi cả một cái giường nệm có mùng theo kiểu Tây, một
cái gương to treo trên tường, và suốt những năm sống ở Sài Gòn chúng tôi vẫn gặp anh Lân rất thường.
Khi Nhật xâm chiếm Việt Nam và sau đó Mỹ thả bom ở Sài Gòn, năm 1943, tôi đưa các con về
Quảng Ngãi quê chồng, mất liên lạc với anh Phan Bá Lân. Sau Hiệp định Genève, tôi nghe tin anh
Phan Bá Lân ở ngoài Bắc và năm 1975, sau ngày thống nhất đất nước, tôi nghe tin anh Lân về Sài Gòn,
đôi mắt bị mù. Anh về trong Nam, nghe nói có nhờ người đi tìm nhà tôi và anh Bút Trà nhưng lúc ấy
Sài Gòn đang hồi bể dâu, nên chẳng ai dám chỉ, họ sợ mang vạ vào thân. Thành ra những người bạn
thân xa nhau những bao nhiêu năm vậy mà trước chuyện sống chết lại không có cơ hội để gặp nhau, để
cùng bắt tay nhau một lần chót. Thương tâm và cũng chua xót thật! Bây giờ khi tôi ngồi viết những
dòng này thì tất cả anh em Phan Bá Lân, Phan Kình, Phan Thuyết (cựu hiệu trưởng trường Đạt Đức ở
Phú Nhuận), Phan Út (cựu hiệu trưởng trường Tân Thịnh ở Tân Định) đều đã ra người thiên cổ.
Trở lại chuyện sau khi Đảng Phục Hưng bị bể bạc. Bà tôi khi nghe tin chuyện bọn Tây đến lục xét
nhà cha tôi và trong đường tơ kẽ tóc, cha tôi có thể bị bắt và bị đi đày thì đâm ra hoảng hốt, gọi cha tôi
về, thuyết đủ mọi cách, nào hăm dọa bị tù đày, bỏ vợ bỏ con không ai nuôi, nào cha mẹ già không chỗ
nương tựa. Lời nói không làm xiêu lòng cha tôi thì bà nội tôi lại lấy nước mắt để cha tôi phải nghe
theo. Ông tôi không hề nói gì vì ông xuất thân từ một tùy viên của ngài Lê Văn Duyệt, có văn, có võ,
không thể ngăn cản con mình vì nó cũng đi vào con đường mà mình đã trải qua. Nhưng ông tôi chỉ nói
là nếu không ai lo cho ông bà tôi trong lúc tuổi già bóng xế thì ông tôi sẽ trở về Nghệ An vì ngoài ấy
ông tôi có cả một đại gia đình có thể sống yên thân cho đến cuối cuộc đời. Nghe thế bà tôi càng khóc
lóc than thở: “Sắp mất con bây giờ lại còn sắp mất chồng”.
Thế là cha tôi trở lại với công việc ở hãng Sica. Nơi đây người chủ Tây rất mến nể cha tôi vì cha
tôi làm việc chuyên cần thanh liêm, công nhân trong hãng cũng rất yêu mến. Mấy lần cha tôi xin thôi
việc để thi vào một công sở không có liên quan gì nhiều đến việc chánh trị như là Bưu điện, Sở
Thương chánh, hay Phòng Thương mại, nhưng ông chủ hãng cứ cho lên lương mỗi lần cha tôi muốn
nghỉ, để giữ cha tôi lại. Cho đến khi cha tôi thi đậu vào Sở Thương chánh Đà Nẵng, làm ở làng Trẹm,
và sẵn có người chồng mới cưới của dì tôi, một nhân viên có tay nghề, biết đánh máy, chịu nhận công
việc của cha tôi thì ông sếp mới bằng lòng cho cha tôi nghỉ. Chuyện đổi việc làm này một phần do sức
ép của bà nội tôi, muốn con làm trong cơ quan nhà nước, có nhiều tiền hơn và có tương lai hơn.
Bà tôi hay tin này mới yên lòng và mẹ con tôi lại từ quê nội ra sống bên cha tôi. Thời gian này tôi
sống bên cha mẹ được hấp thụ sự dạy dỗ chu đáo và tình yêu thương vô bờ bến. Tôi mãi đến bốn tuổi
mới có em nên thời gian này được sự nuông chiều của cả cha mẹ lẫn ông bà nội ngoại.
Trong những năm tháng này tôi thường theo cha mỗi tuần về thăm ông bà nội tôi. Cứ chiều thứ bảy
cha tôi và tôi xuống ghe - đò dọc - ở sông Hàn để sáng lại về đến Hội An, qua Bàng Thạch về thăm
ông bà nội tôi. Một đêm trên sông nước, nhìn phong cảnh hai bên bờ sông, được cha tôi kể chuyện
sông nước, cuộc sống của những người chài lưới trên sông, và gặp những đêm sáng trăng thì tha hồ mà
ngắm cảnh đẹp, nghe tiếng hát của các cô gái chèo thuyền hát đối đáp với các chàng trai trên các chiếc
ghe khác cùng đi về một hướng hay đi ngược dòng sông. Những kỷ niệm ấy ngày nay tôi không còn làm
sao tìm thấy được, những kỷ niệm ấy vẫn sống mãi trong lòng tôi sau bao nhiêu vật đổi sao dời. Sáng
chủ nhật ghe cặp bến trước nhà ông bà tôi, cha tôi và tôi mang hành lý lên sống bên ông bà tôi suốt một
ngày, để tối lại có ghe đến rước. Rồi cũng suốt đêm trên cuộc phiêu lưu giữa sông dài, trời rộng, cho
đến năm giờ sáng thì đến bến chợ Hàn kịp để cha tôi về nhà ăn sáng rồi đi làm.
Với những chuyến đi ấy, tôi học được rất nhiều điều lạ, bổ ích mà các trẻ em ở tuổi ấy chưa chắc
đã biết. Nào cuộc sống của người mò cua bắt cá trong đêm, họ vừa làm việc vừa hát hò đối đáp,
dường như không thấy cái cảnh lấy đêm làm ngày nhọc nhằn, khổ sở. Nào những con đò xuôi ngược,
họ quen nhau vì thường gặp nhau trên đoạn đường này. Mỗi lần gặp nhau họ kêu ơi ới, chào hỏi vui vẻ.
Có ghe câu được cá liền ném qua cho các ghe chưa có gì để nấu buổi cơm tối cho khách trên ghe.
Thường thì chúng tôi được mời ăn cháo vào lúc 10 giờ đêm, gọi là ăn khuya, món cháo nấu với cá vừa
câu được, hay cua tôm mua lại của những người đi mò dưới sông. Sống ở thành phố, có biển, có hàng
phi lao vi vu của bãi tắm Đà Nẵng, có sông có núi, nay về quê được sống với những người nông dân
chân lấm tay bùn, cày sâu cuốc bẫm, trồng trọt quanh năm, tôi có thêm nhiều kiến thức. Tôi chứng kiến
những bữa cơm đạm bạc của họ. Một rổ rá cơm ghế khoai lang hay ghế bắp, thường thì khoai hay bắp
nhiều hơn gạo, với một tô mắm cá cơm đã mặn còn bỏ thêm một vốc muối, ít khi có rau, và chỉ có
những quả cà pháo bỏ trong mắm. Vậy mà người nào người nấy ăn rất ngon, có người ăn cả năm sáu
bát, khiến tôi cảm thấy chén cơm trắng của tôi mà bà nội tôi đã bỏ đầy cá thịt không còn ngon lành, trái
lại còn vô vị nữa là khác. Và tôi đã năn nỉ chú Đài của tôi, người bà con trong họ giúp việc cho ông
bà nội tôi, đổi chén cơm của tôi lấy một chén cơm trộn khoai hay bắp. Chú Đài không dám đổi mà
những người đến làm thuê cho ông bà tôi cũng không ai chịu đổi. Tôi năn nỉ mãi và cuối cùng rồi tôi
cũng đạt được ý muốn trẻ con ấy. Nhưng mà mấy người này khuyên tôi bưng cơm ra bụi tre bên bờ ao
mà ăn, đừng để ông bà tôi thấy. Ôi! Hồi đó tôi thấy chén cơm ghế khoai hay ghế bắp sao mà ngon đến
thế! Sau này khi tôi đưa các con tôi về Quảng Ngãi, rồi tản cư lên Mỹ Thịnh, vì đồng lương của tôi chỉ
đủ mua có hai mươi ngày gạo, đó là không nói đến thức ăn, tôi phải thêu may mướn mới có tiền mua
thịt cá. Còn mười ngày gạo kia phải thêm bắp hay khoai lang khô vào cơm. Mấy đứa con tôi chả đứa
nào chịu ăn bắp ăn khoai mà lừa lại, bới toàn cơm không.
Bà tôi bị suyễn, vì vậy mỗi lần cha tôi về đều có mang theo thuốc xông hạ cơn, trà Tàu cho ông tôi
và dầu bạc hà hiệu Khuất Thần cho bà tôi nữa. Ngoài ra còn có những thứ như lạp xưởng, giò lụa hay
khô bò, thịt chà bông mà mẹ tôi đã thức cả đêm trước để làm, bỏ vào các hũ, lọ.
Tôi còn nhớ có lần cha tôi tìm không ra loại thuốc suyễn dùng để xông cho hạ cơn nên khi về thiếu
món này thì bà tôi giận bắt cha tôi nằm xuống đánh mấy roi. Ôi! Giáo dục gia đình thật nghiêm khắc.
Bà tôi là người sâu sắc, ban ngày ban mặt mẹ tôi có làm gì lầm lỗi, không vừa ý thì bà chẳng bao giờ
rầy la ngay, chờ lúc đêm khuya thiên hạ hàng xóm đều an giấc, kẻ ăn người ở trong nhà ngủ yên, lúc ấy
mới kêu mẹ tôi dậy, bảo cha tôi cũng đứng một bên mẹ tôi để nghe bà tôi dạy bảo bổn phận làm dâu,
làm vợ.
Bà tôi có tánh sạch sẽ đến ai cũng phải nể. Nền nhà bằng đất, đâu phải nền gạch hay nền xi măng,
mà mỗi khi đặt chân xuống nghe có cát đất là bà tôi bắt chú Đài của tôi phải quét lại nhà. Bà tuy rất
thương tôi nhưng không hề bồng ẵm, chỉ vuốt tóc hay hôn nhẹ lên má tôi. Trên bờ ao ngoài vườn là một
bụi tre lớn rậm ...
 





