BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI TÂN

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Screenshot_1309.png

    Lịch sử ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.Chào mừng quý vị đến với Website của Thư viện trường Tiểu học Hải Tân, thành phố Hải Phòng!
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Tiểu đoàn bốn người

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Thu
    Ngày gửi: 08h:14' 28-04-2025
    Dung lượng: 395.3 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Tiểu đoàn bốn người
    Tên sách: Tiểu đoàn bốn người
    Nhà xuất bản: Tiến bộ Matxcơva
    Bản dịch: Nguyễn Việt Nga
    Số hóa: macbupda


    À



    TIỂU ĐOÀN BỐN NGƯỜI
    Đối với Mikhain Nêgreba thì trận đánh ấy bắt đầu từ lúc anh nhảy
    vào trong đêm. Nói cho đúng hơn là từ lúc một cái đẩy nhẹ rất thân
    ái nhưng cũng rất hiệu nghiệm, vào lưng, người ta giúp anh nhảy ra
    khỏi cửa máy bay vì tự
    dưng anh đứng sững lại ở đây làm cản trở những người khác.
    Anh bay trong đêm một đoạn tương đối dài trước khi quyết định kéo
    vòng mở dù vì đây là lần nhảy dù đầu tiên nên anh sợ mắc dù vào
    đuôi máy bay.
    Nhưng chiếc dù đã ngoan ngoãn sòe ra và nếu như Nêgreba có thể
    trông thấy anh bạn Côrôlep ở bên cạnh thì chắc thế nào anh cũng
    nhay nháy cái mắt ý nói với bạn rằng: «Mọi việc cứ theo đúng như ý
    bọn mình!»
    Cách đây hai tuần, ở Xêvaxtôpôn, người ta có thành lập một đội
    những người nhảy dù tình nguyện. Tất nhiên là cả Côrôlep và
    Nêgreba đều không thể để
    lỡ dịp này và cả hai khi được hỏi trước đây đã nhảy dù lần nào chưa
    đều khẳng khái trả lời: «Dĩ nhiên... bảy lần, lúc còn ở câu lạc bộ
    hàng không».
    Có thể nói là đã nhảy hơn hai chục lần cho người ta tin hơn, nhưng
    sợ lại phải làm hướng dẫn viên thì chết! Chỉ cần qua cái lần xếp dù
    đầu tiên khi cả
    hai đều lúng túng mãi với cái túi rộng khó bảo này (lại còn làm ra vẻ
    ta đây có kinh nghiệm mà phê phán cái kiểu xếp này chứ) và cứ
    phải liếc trộm xem những người khác làm thế nào để bắt chước
    cách đeo dù và kéo dây dù, thì cũng đã đủ biết.
    Nhưng mọi việc đều đâu vào đấy cả và bây giờ Nêgreba đang bay
    trong bầu trời đêm và ngạc nhiên với sự yên tĩnh của nó. Tiếng súng
    nổ không vang lên tới độ cao này, nhưng vẫn thấy rõ những luồng

    đạn lửa nhấp nhoáng quanh khắp Ôđetxa và các chiến hạm từ biển
    vẫn đang bắn vào bờ yểm hộ
    cho trung đoàn thủy quân đổ bộ (những người lính nhảy dù sẽ phải
    từ hậu phương địch tiến ra phối hợp với trung đoàn này). Có một
    đám cháy to trong thành phố, ngọn lửa bốc lên cao và đỏ rực như
    máu. Còn nơi Nêgreba phải nhảy xuống thì lại tối mịt mù.
    Nhưng chỉ một lát sau là anh đã nhận ra ở đấy có những chấm lửa
    nhỏ.
    Quang cảnh giống như khi bạn từ trên cột buồm cao nhìn xuống sàn
    chiến hạm, nơi có rất nhiều người đang hút nốt những điếu thuốc vội
    rít luôn mấy hơi dài liên tục. Đấy là đường hỏa tuyến, cần phải nhảy
    xuống phía sau con đường ấy, nhảy vào hậu phương địch. Nêgreba
    kéo một bên dây dù, như đã được hướng dẫn, và anh bay chéo qua
    đường hỏa tuyến.
    Có lẽ anh đã hạ xuống một nơi quá xa mặt trận nên tuy đã bò suốt
    một giờ
    đồng hồ trong đêm rồi mà chẳng gặp một ai. Bất thình lình như có
    cái gì chặn lấy cổ anh và anh vội rút dao găm ra đâm phập vào bóng
    tối. Thành ra
    anh mắc vào đường dây điện thoại. Nêgreba bèn lấy kìm trong túi
    ra, vừa bò theo đường dây vừa cắt nó ra từng đoạn. Anh chợt nghĩ
    ra rằng đường dây có thể dẫn anh đến vị trí của địch và ở đấy mà
    bố trí một hỏa điểm tiểu liên thì tuyệt.
    Sau một giờ bò theo đường dây anh đến một bụi rậm. Qua lớp
    sương mù buổi sớm Nêgreba thấy ba con ngựa và một tên lính gác
    đứng cạnh. Ngửi thấy mùi người lạ, ngựa bèn rống lên làm Nêgreba
    phải nán đợi cho chúng quen mùi một lát. Trong cái khoảnh khắc
    thời gian ấy anh đã kịp quyết định khử tên lính gác, nhẩy phốc lên
    ngựa rồi phóng thẳng qua các làng và vừa phóng vừa bắn bọn địch.
    Tay trái cầm súng, tay phải cầm dao găm Nêgreba bò dần đến tên
    lính gác. Anh đang bò thì cánh tay phải của anh bất ngờ tụt xuống

    một chiếc hố và chạm phải một vật gì mềm mềm ở đấy. Anh hoảng
    quá sửng sốt cả người. Không hiểu từ đâu ở dưới đất thấy có tiếng
    nói to.
    Cuối cùng Nêgreba mới hiểu: cái mềm mềm và lùng nhùng mà anh
    chạm phải là tấm chắn che lỗ thông hơi của chiếc hầm dưới gò đất.
    Nghe rõ tiếng Đức, tiếng giầy đi ngựa va vào nhau loảng xoảng và
    tiếng đánh máy chữ
    lách cách ở trong hầm. Nêgreba thận trọng lấy dao găm rạch chăn
    ra để
    nhìn vào hầm. Chắc đây phải là ban chỉ huy tiểu đoàn hay ban chỉ
    huy trung đoàn gì đó. Bọn sĩ quan phát xít xúm quanh tấm bản đồ để
    trên bàn. Một tên sĩ quan có bộ râu đen đã lâu ngày chưa cạo, đang
    chỉ chỏ một cách bực tức vào tấm bản đồ đó. Phía trong góc là
    những lính điện thoại ngồi trên chiếc ghế dài. Họ gọi một sĩ quan lại,
    tên này quát inh ỏi vào ống nói. Nhân lúc ầm ĩ Nêgreba rút lựu đạn
    trong túi ra. Nhưng anh nghĩ một quả thì ít quá nên khi câu chuyện
    trong hầm lại trở nên ồn ào anh liền rút luôn quả thứ hai, quả thứ ba
    rồi buộc túm chúng lại. Vừa lúc định thả chùm lựu đạn qua lỗ
    thông hơi vào hầm thì anh nghe thấy tiếng vó ngựa, có hai người
    đang phi tới. Hai tên này vào hầm thì tất cả bọn sĩ quan ở đây đều
    đứng dậy ngay vời tư thế «nghiêm», — chắc hẳn trong số hai tên
    mới vào đó phải có một tên là chỉ huy quan trọng.
    Nêgreba quăng lựu đạn qua lỗ thông hơi rồi lăn nhào xuống một
    đám cỏ dại gần đấy. Tên lính gác vừa kịp kêu lên thì căn hầm đã nổ
    tan tành và hắn cũng biến đi mất tích.
    Khi Nêgreba bò đến gần tuyến hào tiền tiêu của địch thì trời đã sáng
    rõ. Anh đành chui vào đống cỏ khô cạnh đấy để đợi. Vừa lúc ấy có
    một tên kỵ binh phóng qua. Đầu rạp xuống cổ ngựa, hắn phi nước
    đại, mắt nhìn ngang nhìn
    ngửa vẻ sợ hãi. Nêgreba còn đang chĩa khẩu tiểu liên về phía hắn
    thì một băng tiểu liên đã vang lên gần đâu đây làm tên kỵ binh ngã

    gục. Nêgreba mừng quá, anh đoán chắc phải có một anh lính nhảy
    dù của ta nấp cạnh đây. Lại một tràng tiểu liên nữa và nhờ đó
    Nêgreba xác định được loạt đạn từ phía bụi cây bên cạnh bắn ra.
    Anh định bò theo bãi ngô sang với người đồng chí (dù sao hai người
    cũng vẫn hơn), bỗng ở ngay chỗ bụi cây ấy mìn nổ tung hết quả này
    đến quả khác và khẩu tiểu liên im bặt. Mấy tên phát xít nhảy ra khỏi
    chiến hào bắn lia lịa vào bụi cây nơi có người đồng chí không quen
    biết đang ẩn náu. Nêgreba bèn điểm thêm loạt đạn của mình vào cái
    tiếng súng loạn xạ ấy làm vài tên phát xít lăn quay, những tên còn lại
    toán loạn bỏ chạy vào bãi ngô. Tất cả lại trở nên im lặng và chỉ còn
    nghe thấy tiếng súng nổ từ xa vọng lại.
    Anh bò đến bụi cây và thấy Lêonchep bị thương nằm sấp ở đấy.
    Nêgreba lật anh lên. Lêonchep vừa mở mắt ra thì đã nhắm lại ngay
    khẽ nói:
    — Misa... cậu bắn cho mình chết hẳn đi... đằng nào mình cũng
    không thoát...
    Nhìn khuôn mặt trắng bệch như sáp của người bạn, Nêgreba bỗng
    hiểu rõ rằng số phận của anh cũng sẽ chấm dứt ở đây, trong cái bụi
    cây này: anh không đủ sức để cõng Lêonchep qua suốt mặt trận mà
    bỏ anh ta lại đây một mình hay thực hiện yêu cầu của anh ta thì anh
    lại càng không thể làm được.
    Anh cảm thấy giá lạnh và chán chường, tự thầm trách mình — việc
    gì mà lại bò đến đây... Cứ đi một mình, nguyên vẹn, khỏe mạnh, thế
    nào mà chẳng thoát... Nhưng tuy sự thương thân và lòng luyến tiếc
    cuộc sống riêng mà vì người khác anh đành phải hy sinh có bóp
    chặt trái tim anh lại thì anh cũng vẫn đành nằm xuống bên Lêonchep
    và cố nói với một giọng vui vẻ:
    — Anh bạn ơi, cái việc ấy thì lúc nào làm mà chẳng kịp... Để cho tớ
    băng bó cho cậu đã... Bọn mình cùng nghỉ ngơi một lúc; chẳng gì thì
    chúng ta cũng hai đứa chứ có đơn thương độc mã đâu...

    Nêgreba phải dùng hết cả hai cuộn băng, một cuộn của Lêonchep
    và một cuộn của mình, mới băng đủ. Anh đặt Lêonchep nằm lại cho
    thoải mái, đặt khẩu tiểu liên vào tay anh ta rồi nói:
    — Cậu sẽ là khẩu đội mũi nhọn. Cứ nằm mà bóp cò, tha hồ làm ăn!
    Chúng mình sẽ đánh bật hết. Cận nghe thấy không, quân ta đến gần
    rồi đấy!
    Thực vậy, tiếng súng nổ dồn dập ngay ở phía trước mặt, đằng sau
    dãy chiến hào của bọn phát xít. Chắc trung đoàn đổ bộ đang tấn
    công bọn chúng. Song tình hình ấy chẳng làm cho họ dễ chịu hơn
    một tí nào vì rồi đây bọn phát xít bị đánh bật khỏi chiến hào sẽ rút
    chạy, mà bụi cây chỗ họ ẩn náu lại nằm ngay trên đường rút của
    chúng. Cần chuẩn bị đối phó với tình huống này.
    Nêgreba xếp lựu đạn và các băng đạn ra phía trước mặt, anh quay
    hỏi Lêonchep:
    — Cậu có lựu đạn không?
    — Có, — anh này vừa trả lời vừa thử xem mình còn điều khiển
    được khẩu tiểu liên không, — ba quả... Nhưng cậu lấy lựu đạn thôi,
    còn đừng sờ đến băng đạn của tớ. Để tớ bắn... Misa này, bọn mình
    sẽ khử hết trước khi chúng nó mò đến đây chứ?
    — Dứt khoát rồi! — Nêgreba nói, và họ lại im lặng.
    Trận đánh đã sát lại gần. Tiếng súng nghe càng rõ hơn. Mặt trời đã
    lên cao và từ mặt đất tỏa ra một hương vị ấm áp, cay cay của cỏ.
    Ngồi đây để chờ
    đợi trận chiến đấu cuối cùng, cái trận chiến đấu mà anh biết chắc là
    sẽ phải hy sinh, quả là một việc thật khó. Ngay bên cạnh cách đây
    ba trăm mét có một khe núi, ở đấy có thể bố trí đánh thốc sườn bọn
    phát xít rất tốt. Nhưng anh không thể chuyển Lêonchep sang bên ấy
    được.

    Anh cố buộc mình nhìn thẳng về phía trước, nhìn về phía chiến hào
    nơi bọn địch sắp xuất hiện. Và mong sao cho mọi việc xảy ra nhanh
    hơn: anh tưởng như mình không còn đủ thần kinh để chịu đựng nữa
    và nếu như sự chờ đợi này còn kéo dài thì anh sẽ bỏ Lêonchep ở lại
    đây một mình mà bò sang khe núi tránh con đường rút của những
    tiểu đoàn phát xít tháo chạy.
    — Quân ta ở phía sau, — Lêonchep nói đột ngột. — Cậu nghe thấy
    không?
    Bản thân Nêgreba cũng đã nghe thấy những loạt súng ngắn rành
    mạch ở
    phía sau, nhưng anh không dám tin vào điều ấy. Lêonchep cựa
    mình và bằng một giọng khàn khàn anh hét lên yếu ớt:
    — Anh em lính thủy ơi!.. Lại đây!..
    Anh định đứng dậy, nhưng lại ngã xuống cỏ. Nêgreba thò đầu ra
    khỏi bụi cây
    và không xa lắm, trong bãi ngô vàng kia anh nhìn thấy chiếc mũ nồi
    đen, rồi ngay bên trái một tí — chiếc thứ hai. Anh bèn đứng thẳng
    người vẫy gọi:
    — Các bạn lính thủy ơi!.. Perepelixa, đồ quỷ, quay phải lên thành
    tầu, người mình cả đây mà!
    Hai người lính nhảy dù kia chạy theo bãi ngô đến bụi cây.
    Đấy là Perepelixa và Côticôp. Họ chui cả vào bụi cây và Nêgreba
    tóm tắt kể
    cho họ nghe về tình hình và kế hoạch của mình: chạy sang khe núi
    rồi đánh thốc sườn bọn địch rút lui.
    — Đây không phải là địa điểm tốt, bọn mình ở đây thì chúng bóp
    chết tươi như ngóe ngay, — anh nói. — Các cậu kéo Lêonchep đi,
    còn tớ sẽ yểm hộ.

    Côticôp và Perepelixa nhấc người bạn bị thương lên. Anh này
    nghiến chặt răng và nhắm nghiền mắt lại vì mỗi lần sóc lại làm anh
    đau nhói. Chỉ còn cách khe núi chừng tám mươi mét thì tiếng súng
    từ giao thông hào vang lên và khoảng hơn chục tên phát xít nhảy ra.
    Nêgreba trả lời chúng bằng một tràng tiểu liên, nhưng hai chiến sĩ
    kia đành phải đặt Lêonchép xuống tham gia chiến đấu. Đánh tan
    bọn địch, những người lính thủy lăn vào khe núi và họ gặp một anh
    lính nhảy dù nữa là Litôpchencô đang nằm ở dây. Xung quanh anh
    là những quả lựu đạn xốp gọn gẽ, và nòng khẩu tiểu liên của anh
    hơi nhếch cao hơn ngọn cò một ít. Gặp nhau, anh phấn khởi nói:
    — Thế mà tớ cứ nghĩ là tớ đi toi rồi! Nằm một mình ngán quá, bây
    giờ thì bọn chúng biết tay — chỉ có mà đếm chúng ngã thôi... Bây
    giờ thì không có sửc nào địch nổi bọn mình được nữa rồi!
    Lêonchep vẫn bất tỉnh. Nêgreba thấy băng đã thầm đầy máu. Anh
    xé chiếc áo lót thành từng mảnh băng bó lại cho bạn. Lúc ấy
    Perepelixa lôi bánh lương khô và sôcôla ra.
    — Tranh thủ ăn sáng một tí chứ, — anh nói. Những người khác
    cũng lấy khẩu phần của mình ra. Nhưng bánh lương khô cứ tắc ở
    cổ, còn sôcôla thì dính chặt lầy miệng không làm sao nuốt được.
    Miệng đã khô cong vì chạy mà mặt trời thì lại cứ nóng như nung như
    nấu và giá thử phải trả bằng bất kỳ giá nào đi nữa để lấy một ngụm
    nước chắc họ sẽ đồng ý ngay. Bi đông nước của mọi người đã ráo
    hoảnh từ đêm qua, trừ bi đông của Litôpchencô là còn lại vài giọt,
    anh đưa cho Nêgreba:
    — Để cậu ấy uống. Người nóng như lửa.
    Nêgreba thận trọng đổ nước vào mồm Lêonchep. Anh này nuốt
    ngon lành và mở mắt nhìn bạn.
    — Lêonchep, cố chịu nhé! — Nêgreba nói.— Cậu thấy đấy, bọn
    mình bây giờ
    đông lắm… Dứt khoát chúng minh sẽ phá được vòng vây!

    Lêonchep không trả lời và đôi mắt anh lại nhắm lại. Perepelixa khẽ
    nói:
    — Nhìn này, bọn phát xít tháo thân...
    Quả thật, một bọn phát xít đang bỏ chiến hào tháo chạy thẳng đến
    bụi cây mà anh em lính thủy vừa rút khỏi. Sáu tên đeo tiểu liên chạy
    nhanh hơn cả.
    Chạy đến bụi cây chúng nằm rạp xuống rồi quay súng nã vào những
    tên đang chạy theo.
    — Đấy mới thật là chiến thuật! — Nêgreba ngạc nhiên. — Thế nào,
    các bạn lính thủy, ta giúp bọn phát xít một tay chứ... Nhưng đừng
    bắn bừa bãi như
    chúng mà phải ngắm bắn chính xác từng thằng đấy!
    Anh sắn ống tay áo lên và bắn phát đầu tiên vào tên sĩ quan đang
    vung vẩy khẩu súng lục. Đạn của anh em lính thủy từ khe núi đánh
    thốc sườn vào bọn phát xít đang tháo chạy.
    Kể ra cũng có thể không cần bắn. Vì đằng nào bọn phát xít cũng
    không phát hiện được cái nhóm người ẩn trong khe núi này và họ có
    thể cứ thế mà đi về
    phía quân ta một cách an toàn. Nhưng họ lại bắn và để lộ sự có mặt
    của mình ở đây, họ bắn vì mỗi viên đạn diệt thêm một tên giặc, họ
    bắn để phối hợp với cuộc tấn công của tiểu đoàn lính thủy đổ bộ.
    Dưới làn đạn ấy bọn sĩ quan không làm thế nào cản được quân lính
    của chúng bỏ chạy ra khỏi chiến hào và tập họp được chúng lại.
    Nhóm tiểu liên phát xít bắt đầu nổ súng về phía những người lính
    thủy và một tên sĩ quan dẫn khoảng hai chục lính tiền về phía khe
    núi. Cuộc chiến đấu thực sự đã nổ
    ra. Những người lính thủy liên tục đánh tan liền hai đợt tấn công của
    địch.

    Đợt tấn công của bọn phát xít bị đập tan, chúng để lại trong bãi ngô
    và bên kia khe núi những thân hình bất động. Perepelixa ngắm bãi
    trận.
    — Bọn mình hạ cũng khá đấy chứ! — anh hài lòng nói. — Còn đạn
    dược thế
    nào, các bạn?
    Tình hình đạn dược thì thật là gay. Anh em lính thủy đã dùng gần
    hết số đạn dự trữ. Bây giờ cơ sự còn nguy hiểm vì bọn phát xít ở vị
    trí bên cạnh cũng sắp chạy qua đây và thế nào cũng nhảy vào khe
    núi này. Nêgreba đề nghị
    lại chuyển sang khe núi khác, ở đấy cũng có thể đánh thốc sườn
    bọn rút lui, nhưng khi nhìn Lêonchep anh đành tự bỏ ý kiến của
    mình. Những người lính thủy lặng yên suy nghĩ. Sau đó Nêgreba
    nói:
    — Làm thế nào được! Phải cầm cự thôi. Đạn phải giữ để phá vây.
    Bây giờ chỉ
    được dùng lựu đạn, mà chỉ ném bọn nào vào gần thôi.
    Họ lại im lặng chờ đợi. Perepelixa rút từ trong túi ra một khẩu súng
    lục sĩ
    quan và nhìn băng đạn nói:
    — Sáu viên. Bọn mình năm đứa. Đủ đấy. Bây giờ bắt thăm xem ai..?
    Hiểu chứ?
    — Hiểu rồi.
    — Đồng ý!
    Anh ngắt bốn ngọn cò, cắn ngắn một ngọn đi rồi xếp đầu chúng
    bằng nhau trong nắm tay và giơ ra cho Litôpchencô.

    — Cậu lấy đâu ra khẩu súng lục Đức thế? — vừa rút ngọn cỏ
    Litôpchencô vừa hỏi Perepelixa rồi khoan khoái nói: — tớ không
    trúng rồi, cỏ dài mà.
    — Đêm qua mình khử một tên sĩ quan Đức, — Perepelixa trả lời —
    thấy khẩu này cũng chẳng nặng gì mà có lúc sẽ cần tới... Côticôp,
    cậu rút đi.
    — Có lẽ để dành đạn mình hơn? — Côticôp vừa thận trọng rút ngọn
    cỏ vừa nói một cách do dự. — Dùng đạn của chúng, nó cũng vẫn
    thế nào ấy...
    Ngọn cỏ của anh cũng dài.
    — Nếu chúng nó bắn bị thương thì không dùng tiểu liên được đâu,
    chứ bằng khẩu này thì nằm cũng sử dụng được, — Perepelixa nói
    có vẻ thông thạo và rút cò. — Cũng dài. — Misa, thế là cậu nhé...
    Nhưng mà đừng vội đấy. Bao
    giờ thật hết đường đã, rõ chứ?
    — Rõ, — Nêgreba nói và đặt khẩu súng lục xuống cạnh.
    — Thôi, chúng bắt đầu đấy! — Côticôp khẽ nói. — Này, các bạn lính
    thủy ơi!.. Nếu không sao thì chúng mình lại gặp nhau nhé.
    Họ im lặng. Chỉ thỉnh thoảng nghe thấy tiếng rên của Lêonchep mà
    thôi.
    Perepelixa đưa tấm vải ngụy trang cho Nêgreba:
    — Che vào, cậu nằm cứ giơ ra như con ngựa vằn ấy! Cách xa hàng
    hải lý vẫn thấy.
    — Kệ cho chúng thấy! — Nêgreba trả lời. — Thế lại hay hơn, chúng
    sẽ biết mình là lính thủy.
    Rồi họ lại im lặng nhìn bọn phát xít đang tiến về khe núi.

    Bọn phát xít nhảy ra khỏi chiến hào, bắn trả lại lính thủy đổ bộ tấn
    công, chúng nằm rạp xuống đất, đứa nọ đè lên đứa kia rồi lại bật
    dậy chạy từng đoạn, khoảng năm sáu mét một. Chúng tiến thành
    một hàng dầy đặc, đứa nọ sát đứa kia và cứ sau mỗi dạt chạy lại
    càng tới gần nhóm lính thủy hơn.
    Gần một trăm tên chạy thẳng đến khe núi để mong tránh được
    những luồng đạn truy kích của trung đoàn lính thủy đổ bộ đang đuổi
    theo chúng. Chúng lại nằm xuống một lần nữa, bắn bâng quơ vài
    băng rồi như cùng theo một mệnh lệnh chung, bật dậy chạy uà vào
    khe núi.
    Anh em lính thủy đã nhìn thấy rõ những bộ mặt, lông lá lâu ngày
    không cạo, mồ hôi mồ kê và hoảng hốt của bọn phát xít. Bọn chúng
    gần đến nơi, mùi mồ hôi đập cả vào mũi anh em lính thủy. Chúng
    không hò hét, cùng nhau chạy vào khe núi.
    Vừa lúc ấy, Nêgreba đứng phắt dậy chắn ngay đường đi của chúng.
    Trông anh hùng dũng và gọn gàng trong chiếc áo may ô kẻ ngang
    với khẩu tiểu liên bên tay trái, tay phải giơ lựu đạn.
    — Này, nhận quà của thủy quân! — anh hung dữ quát lên và ném
    lựu đạn vào giữa đám phát xít. Tiếp theo là ba quả khác cũng từ khe
    núi ném ra.
    Những tiếng nổ dữ dội làm nhiều tên phát xít lăn quay. Bọn còn lại
    dạt cả
    sang hai bên lẩn trốn. Anh em lính thủy ném thêm bốn quả lựu đạn
    nữa và cái lối đi xuyên qua đội ngũ địch trở nên rộng hơn.
    Perepelixa gọi to:
    — Misa, bọn mình có thể chạy thoát đấy! Cõng Lêonchep đi!
    Tất cả tức khắc hiểu ý anh và cùng nhau, mỗi người một tay, nhấc
    người bị

    thương dậy. Họ chạy thốc vào lối đi vừa hình thành; cái đau làm
    Lêonchep thức dậy, anh cố nghiến răng chịu đựng cuộc chạy vùn
    vụt cuồng bạo này.
    Khi họ đã vượt qua được chỗ đông quân địch rồi thì Lêonchep chợt
    thấy một toán phát xít đuổi theo. Anh nhìn Perepelixa năn nỉ:
    — Bỏ mình lại... Các cậu chạy đi...
    Perepelixa vừa chạy vừa làu bàu mắng anh, rồi anh lại im lặng.
    Bọn phát xít đã đuổi đến gần. Bọn chúng có đến hàng trăm đứa mà
    anh em lính thủy chỉ có năm người. Nhận thấy điều ấy, bọn địch
    quyết định bắt sống những người lính thủy này. Một tên phát xít to
    lớn nhảy bổ đến định dùng lưỡi lê đâm Perepelixa. Côticôp buông
    chân Lêonchep ra bắn cho hắn một phát vào gáy, nhưng một tên
    khác lại xông đến anh. Perepelixa bèn nhặt lấy khẩu súng trường và
    dùng lưỡi lê đâm mạnh một nhát kết liễu đời tên này, rồi tên thứ hai,
    thứ ba. Vứt súng đi, anh giật quả lựu đạn đeo ở thắt lưng ra quăng
    vào đám lính đang chạy đến. Bọn này định quay lùi trở lại, nhưng
    quả
    lựu đạn đã nổ ngay giữa chúng. Những tên sống sót nằm rạp xuống
    nổ súng.
    Đạn réo xung quanh những người lính thủy. Perepelixa nằm xuống,
    anh quát to:
    — Hai cậu khiêng Lêonchep đi, tớ với Côticôp bắn chặn chúng cho!
    Những người lính thủy nằm sát xuống cỏ bắn những viên đạn cuối
    cùng.
    Nêgreba và Litôpchencô bò kéo Lêonchep đi, hai anh kia vừa bò
    theo sau họ
    vừa chặn bọn địch bằng những loạt đạn ngắn và chính xác. Bọn
    phát xít dừng lại, vội vã rút về hậu cứ, còn những người lính thủy

    cũng bất ngờ lăn cả xuống chiến hào của bọn địch vừa bỏ chạy.
    Ở đây họ mới hoàn hồn và nhìn kỹ lẫn nhau: đạn sướt má Côticôp,
    còn Perepelixa bị hai viên mắc ở bắp đùi. Litôpchencô cũng bị
    thương. Mấy chiếc áo thủy quân đều được xé ra dùng để băng bó
    hết.
    Bọn phát xít đã chạy xa quá bụi cây, còn phía trước chắc là toàn
    quân ta.
    Anh em lính thủy đặt Lêonchep nằm trong chiến hào, đem nước đến
    rửa mặt và cho anh uống rồi để cạnh anh một khẩu tiểu liên cùng
    mấy quả lựu đạn tìm thấy trong hầm. Nhìn thấy tất cả sự chăm sóc
    ấy Lêonchep mỉm cười, đôi mắt đầy lệ của anh đẹp hơn tất cả mọi
    lời, nói lên những tình cảm đang tràn ngập tâm hồn anh. Có lẽ cái
    nhìn ấy làm Nêgreba ngượng ngùng. Anh đứng dậy và nói với một
    vẻ quá nghiêm chinh:
    — Cậu nằm đây, cánh tớ sẽ không lắc cậu nữa đâu. Tí nữa sẽ có y
    tá và có cáng. Còn bọn mình đi tìm quân ta đây.
    Và họ đứng thẳng dậy — bốn người mặc bốn bộ áo thủy quân kẻ
    ngang, đội bốn chiếc mũ nồi đen, thân thể họ đầy máu và băng bó
    bằng những mảnh quân phục, nhưng hùng dũng và sẵn sàng lại
    vượt qua hàng trăm tên địch.
    Và hình như bản thân họ cũng thấy ngạc nhiên cái sức sống kỳ lạ
    của mình.
    Perepelixa nói:
    — Một người lính thủy chỉ là một người lính thủy, hai người lính thủy
    là một trung đội, ba người lính thủy — một đại đội... Chúng mình
    mấy đứa? Bốn?..
    Tiểu đoàn, nghe lệnh tôi: bước đều... bước!
    CHIẾC KHĂN MẦU XANH DA TRỜI

    Những máy bay khu trục lần lượt hạ cánh, Trên buồng lái của một
    chiếc, tôi thấy có chiếc khăn mầu xanh da trời bay phấp phới như lá
    cờ hiệu dài. Và tôi liền sực nhớ lại những cuốn tiểu thuyết đã đọc
    hồi còn trẻ. Chàng dũng sĩ
    mặc áo giáp xông ra trận mạc và chiếc khăn mỏng nhẹ buộc trên
    cánh tay cầm kiếm đã cùng chàng đem tới nơi trận tuyến mầu sắc
    thiêng liêng đối với người yêu huyền mỹ. Tôi mỉm cười thầm cái
    hình ảnh lãng mạn vừa trông thấy ấy. Đó là một chiếc khăn như
    muôn vàn chiếc khác, Anh em phi công hay quàng bằng những khăn
    lụa trơn chỉ để chiếc cổ cứng của bộ quân phục khỏi sát đến đỏ cả
    gáy. Có lẽ trong trận đánh vừa qua đồng chí phi công này đã phải
    ngoảnh đi ngoảnh lại nhiều.
    Quả đúng như thế. Sau trận bắn phá quay trở về, phi đội bị một lũ
    «mecsecsmit» bổ vây. Chúng ở cả tứ phía, mà chiếc khăn quàng ở
    cổ đồng chí thiếu tá chỉ huy phi đội lại sổ tung ra. Thiếu tá hạ được
    một chiếc, nhưng
    đồng chí không tin vào kết quả lắm vì lúc đó phải bay đi hỗ trợ cho
    Adarian.
    Lúc đuổi theo chiếc máy bay thứ hai, thiếu tá đã phát hiện ra một
    sân bay mới của địch và bây giờ ông đề nghị với chỉ huy trung đoàn
    ngày mai cho đi diệt bọn Đức ở sân bay này vào lúc tờ mờ sáng.
    Xếp máy bay vào công sự xong đâu đấy (mặt trận ở sát ngay cạnh),
    chúng tôi đi xuống hầm. Vừa cười tôi vừa kể với thiếu tá về chàng
    dũng sĩ và người thiếu nữ xinh đẹp. Đồng chí ngước đôi mắt còn
    đang đỏ ngầu vì gió trên cao và trận đánh vừa qua lên nhìn tôi mỉm
    cười. Bây giờ không đội mũ phi công và trên nền xanh da trời của
    chiếc khăn quàng, tôi thấy khuôn mặt của đồng chí già hơn. Chắc
    thiếu tá đã ngoài bốn mươi tuổi.
    Trong bữa cơm tối mọi người nói chuyện về trận chiến đấu vừa qua
    và anh em phi công khẳng định rằng chiếc «mecsecsmit» do thiếu tá

    bắn rơi đã cắm thẳng xuống đất. Rồi người ta nhớ đến chiếc khăn
    quàng bị sổ ra và các câu nói đùa vui vẻ bắt đầu.
    — Thế nào rồi cũng có lúc nó kéo anh ra khỏi buồng lái như chiếc
    dù ấy! —
    đại tá nói. — Mà anh cần gì cả một mảnh to thế?
    — Tiện chứ, — thiếu tá trả lời. — Quàng khăn vào thì đầu cứ như
    trong ổ bi ấy, tha hồ mà quay.
    — Thế mà cậu Mirônôp của anh thì lại dùng cái thứ như bít tất ấy.
    Anh xé cho cậu ta một nửa đi.
    — Đồng chí đại tá ạ, xé thế nào được lời thề, — thiếu tá nói nửa đùa
    nửa thật. — Tôi sẽ lấy kim băng gài lại vậy.
    — Vật hộ thân đấy, đồng chí đại tá ạ, — Mirônôp cười. — Thiếu tá
    ngủ với nó, chiến đầu với nó và đi tắm cũng cùng với nó đấy. Phải
    hiểu mới được chứ: phi công già...
    Năm giờ sáng máy bay sẽ cất cánh, anh em phi công chuẩn bị đi
    ngủ. Tôi nằm cạnh thiếu tá. Khi đi ngủ, đồng chí gấp gọn chiếc khăn
    lại và đặt xuống bên má.
    Thỉnh thoảng cao xạ hạng nặng giã vào sân bay lại làm ngọn lửa
    chiếc đèn
    trên bàn bùng lên và cát sỏi sau những tấm gỗ dán lát quanh tường
    hầm lại rơi lạo sạo. Anh em phi công đã quen với bài hát ru ấy nên
    vẫn ngủ ngon lành, có người còn ngáy to đến nỗi đôi khi át cả tiếng
    nổ.
    Chiếc khăn buồn buồn trên mặt tôi. Tưởng như có một hương vị dịu
    dàng thoảng bay tỏa ra từ chiếc khăn ấy và muôn vàn ý nghĩ hiện ra
    trong óc tôi.
    Từ chiếc khăn tôi suy đến thời thanh niên sôi nổi, đến những bả vai
    thanh tú của các cô gái và đoán chắc rằng thứ vật hộ mệnh này hẳn

    là quà tặng của một cô nào đó đã cảm phục lòng dũng cảm và tinh
    thần gan dạ hiện rõ trong nét mặt điềm đạm của người phi công này.
    Tôi nhổm dậy. Đồng chí thiếu tá vẫn đang thiu thiu ngủ. Khuôn mặt
    điềm tĩnh, mệt mỏi của đồng chí không hợp một tí nào với câu
    chuyện tôi tưởng tượng ra. Đây là khuôn mặt chất phác của một
    người lính, của một người lao động trung thực trong hàng ngũ
    không quân vừa tái ngũ. Khuôn mặt ấy không thể nào gợi cho cô gái
    lãng mạn cái tình cảm như vậy được. Chắc là chuyện khác. Tôi sực
    nhớ là trong bữa cơm tối, ông có nói sơ sơ rằng khi chuyển sang
    trung đoàn này ông đã tranh thủ rẽ về nhà và không gặp ai: thành
    phố đang bị đe dọa, cả gia đình đã đi sơ tán.
    Tôi tưởng tượng thấy đồng chí phi công bước vào một căn nhà bỏ
    hoang, nơi mọi vật đều quen thuộc, đều nhắc nhở đến những người
    thân yêu, nơi mà tất cả bỗng trở nên nguội lạnh và trống trải, tất cả
    đã bị bỏ rơi trong cái lộn xộn chua cay của một sự thu xếp vội vàng
    và nơi mà những hồi ức về cuộc sống thanh bình, về những niềm hy
    vọng, về sự âu yếm và ấm áp thân yêu cũ như những bóng ma
    không thể nào bắt được, hoặc có bắt được thì cũng chẳng phải là
    trong một thời gian gần gũi... Tôi thấy đồng chí đứng giữa nhà ngắm
    nhìn bốn phía, thấy đôi môi mím lại và có thể những giọt lệ đau sót
    và buồn nhớ đang tràn lên khóe mắt, tôi thấy đồng chí lặng lẽ cúi
    xuống nhặt một vật, đó là chiếc khăn quàng mầu xanh da trời —
    bóng hình nhẹ không của những ngày tháng đã qua.
    Giá thiếu tá không cựa mình và mở mắt ra thì chắc tôi còn nghĩ
    thêm được vài tình tiết nữa cho câu chuyện.
    — Gớm, đồ quỷ ngáy ghê quá! — thấy tôi không ngủ, đồng chí nói.
    — Khổ
    hơn nghe súng... Cậu ta khỏe thật...
    Đấy là Adarian ngáy, trận đánh làm anh mệt lử. Thỉnh thoảng anh
    chép

    miệng một cái thật mạnh rồi lại im bặt hình như ngạc nhiên lắng
    nghe bản thân mình. Nhưng một tiếng nổ dữ dội lại vang lên, và
    trong giấc ngủ
    Adarian đã trả lời lại bằng một tiếng ngáy như tiếng gầm gừ của một
    con vật khổng lồ bị đánh thức. Rồi điệu nhạc lại bắt đầu từ đầu.
    — Không, chẳng ngủ được. — Thiếu tá thở dài nói. — Có lẽ ta hút
    thuốc vậy?
    Chúng tôi cùng ngồi hút thuốc, rối đầu sát bên đầu thủ thỉ tâm tình
    với nhau, — lúc này thì cả tiếng súng, tiếng bom và tiếng ngáy của
    anh bạn láng giềng đều không thể át nổi những câu nói xúc động.
    Trong các trận đánh và trong sự chuẩn bị trường kỳ cho các trận
    đánh ấy, con nhà lính không lúc nào có thì giờ để nói chuyện với
    nhau về tình cảm của mình. Và những tình cảm ấy đông lại, bền
    chặt lắng sâu vào tâm hồn như
    những viên ngọc quí. Nhưng cái trái tim sinh cảm kia thì lại mơ ước,
    lại thèm khát được cởi mở những điều bí mật chưa từng thổ lộ với ai
    bao giờ. Bởi vậy trong câu chuyện tâm sự với người khách xa lạ sẵn
    sàng lắng nghe suốt đêm, thì dù ở trong căn hầm đất này dưới tiếng
    nổ của bom đạn, hay bên công sự vào một đêm trước giờ nổ súng,
    hoặc trên boong của một chiến hạm đang xông ra trận, — trái tim
    người lính bao giờ cũng cởi mở một cách dễ tin và trìu mến. Nhiều
    khi trong cái lòng sâu tuyệt vời của những trái tim này, bạn sẽ thấy
    cái điều làm cho bản thân người lính và những chiến công của anh
    sẽ được soi tỏ dưới một ánh sáng mới. Bức màn bí quyết của sự
    phát sinh ra chiến công được kéo lên và bạn sẽ hiểu thế nào là lòng
    căm thù quân giặc.
    Những tưởng tượng của tôi thật nghèo nàn biết bao so với thực tế
    cuộc sống và chiến tranh. Sự kiện đã xảy ra đơn giản hơn, ác liệt
    hơn, và vĩ đại hơn nhiều.

    Vào ngày đầu chiến tranh, thiếu tá chiến đấu ở vùng bờ biển Ban
    tích. Tái ngũ, ông liền được chỉ định công tác bảo vệ một thành phố
    nhỏ xứ Extoni.
    Thành phố này còn sống với những quan niệm cũ về người Đức và
    không một ai tin rằng những người Đức ấy lại có thể ném bom
    xuống những thành phố thanh bình. Bởi vậy suốt từ sáng đến chiều
    người ta vẫn phơi mình trên bãi biển xinh đẹp của thành phố và từ
    trên cao nhìn xuống nó giống như một lớp bọt mầu hơi hồng pha lẫn
    ánh vàng, bị biển sóng gạt vào bờ cát. Bảo vệ
    sự nghỉ ngơi của thành phố và của những trẻ em ở đây, thiếu tá
    vòng lượn trên thành phố để kịp thời phát hiện máy bay địch. Bầu
    trời đượm mầu xanh thẫm và xanh lơ, biển ấm áp, dịu dàng, cát
    nóng bỏng và vàng óng.
    Câu chuyện đã xảy ra vào một ngày chủ nhật, 29 tháng sáu. Thiếu
    tá phát hiện thấy một chiếc «gioongke» ở phía biển bên trái và đồng
    chí bèn lao tới.
    Nhưng thật không may: tên xạ thủ phát xít đã bắn trúng thùng xăng,
    đồng chí buộc phải bay xuống thấp. Chiếc «gioongke» lọt thoát và
    thiếu tá trông thấy những đám khói hình nấm bùng lên trong thành
    phố. Những ngôi nhà ngăn nắp, xinh xắn bốc cháy.
    Chiếc «gioongke» quay ra biển, nhào xuống bãi tắm và các đám bọt
    mầu hơi hồng có pha lẫn ánh vàng của những thân người uà cả ra
    biển. Máy bay xả
    súng xuống đám trẻ em, phụ nữ trên bãi tắm. Họ chạy trốn ra biển
    tưởng như nước có thể che họ khỏi những viên đạn. Họ hụp xuống,
    cố sao cho kín người. Nhưng chiếc «gioongke» lại vòng lại và làn
    sóng người trào tung lên khỏi biển dội xuống những chiếc dù mầu
    sặc sỡ, những lều vải, những tấm màn che nắng để rồi rơi ập xuống
    bãi cát như những giọt nước to bất động.
    Như điên dại, thiếu tá bắn một cách vô ích theo cái chấm đen đang
    hút đi xa. Cuối cùng tiếng động cơ máy bay đồng chí tắt hẳn. Đồng

    chí sực tỉnh.
    Bây giờ chỉ còn cách đỗ xuống bãi tắm được thôi. Thiếu tá bèn lái
    chiếc máy bay bị thương xuống đấy, nhưng khắp bãi là xác phụ nữ,
    trẻ em. Những thân thể không có lấy một tý gì để bảo vệ, lặng im
    nằm trên cát. Mãi đồng chí mới tìm được một chỗ ở rìa bãi tắm là
    không có xác người.
    Đồng chí nhảy ra khỏi buồng lái lảo đảo bước đi. Một đám mây màu
    máu nhào lộn trước mắt người phi công. Không còn nhìn thấy gì,
    không còn hiểu ra sao, đồng chí bước đi như người mất hồn vô
    phương hướng cho đến lúc vấp chân. Nhìn xuống, đồng chí bất giác
    lùi lại.
    Trước mắt đồng chí là một người con gái nằm sóng soài đầu gục
    vào vai. Mặt trời làm ánh lên làn da dịu dàng của cô và bộ ngực còn
    chưa đầy đặn để lại một hình bóng nhẹ nhàng. Dưới ngực một chút
    là một giải máu gọn chảy dòng xuống sườn bên trái — dấu vết của
    những viên đạn nhọn, xuyên nhanh qua bụng. Trong nắm tay buông
    thõng có một chiếc khăn mỏng mầu xanh da trời — vật bảo vệ, che
    chở độc nhất của cô khi chạy tránh đạn.
    Đồng chí phi công thận trọng cầm lấy những ngón tay thon còn đang
    nóng ấm của cô gái rồi nhặt chiếc khăn lên. Và cứ thế, với chiếc
    khăn trong tay, đồng chí đứng nhìn về bãi tắm đầy xác trẻ em, thiếu
    nữ và phụ nữ, đồng chí đã đọc một lời thề câm lặng.
    — Tôi ngủ cùng chiếc khăn này để ngay cả trong lúc ngủ cũng
    không quên mối thù, — thiếu tá vừa nói vừa đứng dậy.
    Đồng chí giở chiếc khăn ra. Cái viền tua lộng lẫy của nó như bị
    chuột gặm.
    Tôi ngắm xem. Thành ra đây là những nút: các sợi tua được tết lại
    thành những giải hoặc buộc lại thành nút — những nút tròn trĩnh,
    cẩn thận. Có tất cả sáu nút và tám giải tết. Vừa tiếp tục nói, thiếu tá
    vừa tết lại thêm một giải mới.

    — Đây là chiếc «mecsecsmit» hôm nay — đồng chí nghiêm nghị nói
    — còn nút tròn là máy bay ném bom. Nhưng anh đừng kể lại với mọi
    người nhé, họ
    sẽ cười đấy, họ sẽ nói là gớm thiếu tá tỉm được trò chơi...
    Đồng chí im lặng, thành thạo tết những sợi lụa rồi ngửng đầu lên.
    Nét mặt đồng chí làm tôi ngạc nhiên.
    — Trò chơi gì đâu, — giọng đồng chí trầm trầm. — Cho đến lúc còn
    chưa tết hết được những sơi này thì cái bãi tắm vẫn sẽ hiện ra trước
    mắt tôi... Hồi ấy, nếu tôi không để cho chiếc «gioongke» thoát thì....
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI TÂN - TP. HẢI PHÒNG !