Lịch sử ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.Chào mừng quý vị đến với Website của Thư viện trường Tiểu học Hải Tân, thành phố Hải Phòng!
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Vua Hàm Nghi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thu
Ngày gửi: 20h:45' 26-07-2025
Dung lượng: 596.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thu
Ngày gửi: 20h:45' 26-07-2025
Dung lượng: 596.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Tên sách : VUA HÀM NGHI
Tác giả : PHAN TRẦN CHÚC
Nhà xuất bản : CHINH-KÝ
Năm xuất bản : 1951
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : alegan, khibungto, alittleNu, baothong158qt,
kayuya, Skellig, truongquang0500, lion8, Anh9902, fathao,
Kiểm tra chính tả : Ngô Thanh Tùng, anfat3, Tào Thanh
Huyền, Vũ Thị Xuân Hương, Trần Ngô Thế Nhân
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 18/11/2018
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận
« SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG
BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG
Cảm ơn tác giả PHAN TRẦN CHÚC và nhà sách CHINHKÝ đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
CÁI OAI TÀN CỦA VUA TỰ-ĐỨC
ĐÀN HẶC NGUYỄN-VĂN-TƯỜNG, PHAN-ĐÌNH-PHÙNG BỊ
TỐNG NGỤC
TÔN-THẤT THUYẾT, CON HÙM XÁM CỦA TRIỀU-ĐÌNH HUẾ
NGUYỄN VĂN-TƯỜNG
ĐÔ ĐỐC COURBET BẮN VÀO CỬA THUẬN
MỘT HÒA ƯỚC KÝ TRÊN VŨNG MÁU
VUA HIỆP-HÒA CHỌN MỘT TRONG BA CÁCH CHẾT
TRẦN-TIỄN-THÀNH BỊ GIẾT, TUY-LÝ-VƯƠNG BỊ ĐẦY VÔ
QUẢNG-NGÃI
NGUYỄN-VĂN-TƯỜNG ĐỊNH XÉ HÒA-ƯỚC 25 THÁNG TÁM
VUA HÀM-NGHI : QUÃNG ĐẦU CỦA MỘT CUỘC ĐỜI LUÂNLẠC
HAI MƯƠI BA THÁNG NĂM KINH THÀNH THẤT THỦ
CHẠY RA QUẢNG-TRỊ
TRONG KHI VĨNH BIỆT
ĐƯỜNG ĐI CÔN ĐẢO
NGUYỄN HỮU ĐỘ
BỎ TÂN-SỞ, THUYẾT ĐƯA VUA RA BẮC
ĐẢNG VĂN THÂN
BỊ CHẸN ĐƯỜNG ĐỘNG-HẢI VUA HÀM-NGHI LÁNH SANG LÀO
THỐNG-SOÁI DE COURCY LẬP VUA ĐỒNG-KHÁNH
QUA ĐÈO QUI-HỢP
VUA HÀM-NGHI XUỐNG CHIẾU CẦN-VƯƠNG
LÊ TRỰC DẤY QUÂN Ở THANH-THỦY
ĐỘI QUÂN MƯỜNG CỦA TRƯƠNG QUANG-NGỌC
https://thuviensach.vn
PHAN ĐÌNH-PHÙNG VÀ ĐINH NHO-HẠNH KHỞI BINH Ở VỤ
QUANG
CUỘC SĂN NGƯỜI
TẠI QUẢNG-BÌNH TƯỚNG PHÁP DỤ LÊ-TRỰC
HAI LÁ THƯ CỦA QUAN NGUYÊN ĐỀ-ĐỐC HÀ-NỘI
NGUYỄN-PHẠM TUÂN MẮC PHẢN
CHÀNG THANH-NIÊN TRÊN SÔNG NAI
VUA HÀM NGHI BỊ BẮT
TÔN THẤT ĐẠM TUẪN TIẾT
TRƯỚC KHI LÌA NƯỚC
1889-1935
https://thuviensach.vn
PHAN TRẦN CHÚC
VUA HÀM NGHI
Nhà sách Chinh-Ký
63B, Phố Sinh Từ – Hà-Nội
XUẤT BẢN
https://thuviensach.vn
VUA HÀM NGHI của Phan-trần-Chúc do nhà sách
Chinh-Ký xuất-bản, in lần thứ ba tại nhà in Vĩnh-Thịnh –
Hanoi.
https://thuviensach.vn
CÁI OAI TÀN CỦA VUA TỰ-ĐỨC
1882-1883 – Về hai năm cuối đời Tự-Đức, lá cờ của
triều Nguyễn ủ rũ, vì đã trải qua mấy phen thất-bại ở chiến
trường.
Lốt chân người Pháp dẫm lên gần khắp cõi Đông-dương.
Bức đồ Việt-nam thoạt tiên bị cắt đứt ba tỉnh Biên-hòa, Giađịnh, Định-tường (5 tháng Sáu 1862). Ngày 25 tháng Sáu
1867, Nam-triều mất nốt ba tỉnh Vĩnh-long, Châu-đốc và Hàtiên. Thế là trọn xứ Nam-kỳ đã về tay người Pháp mà chỉ còn
giữ lại có hai trăm mẫu ở hai xã Linh-chung và Tân-mỹ thuộc
tỉnh Biên-hòa, làm của hương hỏa để tế họ Đỗ và họ Phạm là
họ Từ-Dụ Thái-hậu, mẹ vua Tự-Đức.
1
Trung và Bắc-kỳ tuy vẫn còn là của nhà Nguyễn, nhưng
theo điều thứ ba, hiệp ước ngày 15 tháng Ba 1874 « vua Annam không được phép ký thương-ước với bất cứ một nước
nào mà không hợp với thương-ước Pháp-Nam và mỗi lần
giao-thiệp với một ngoại-quốc phải trình trước đại-biểu
Chánh-phủ Pháp ».
Nước Nam dồn lại chỉ còn có hai xứ là Trung, Bắc-kỳ. Hai
xứ ấy lại cũng không được độc-lập hoàn-toàn. Vì ngoại giao
của nó đã phải đi theo đuôi ngoại giao nước Pháp.
Trong một nước tạm yên : Những trận đánh ở Bắc-kỳ
thoắt đổi làm cuộc giao-thiệp hòa-bình. Nhưng vua Tự-Đức
không chịu nổi cái mầm bảo-hộ của người Âu, nên quay về
lối ngoại-giao cổ của nước Nam. Ngày 25 tháng Chạp 1880,
Nam-triều đệ các đồ tiến cống sang nhà Thanh và gây mối
https://thuviensach.vn
giao-thiệp cũ với Trung-hoa, có ý mượn sức người Tàu để trừ
người Pháp.
Việc làm của vua Tự-đức trái với hiệp-ước Pháp-Nam.
Ngày 13 tháng Ba 1882, Le Myre de Vilers là Thống-đốc
Nam-kỳ có gửi một bức thư ra trách vua Tự-Đức.
Cuộc xung-đột này chưa giải quyết thì lại xẩy ra việc Le
Myre de Vilers cử Thiếu-tá Henri Rivière ra Bắc để án ngữ
thành Hà-nội.
Le Myre de Vilers hẹn Thiếu-tá Henri Rivière không được
động binh. Quân Pháp đóng ở tô giới, quân Nam giữ trong
thành. Bản ý Le Myre de Vilers là cho Thiếu-tá Rivière ra thị
uy ở Bắc-kỳ để giúp thanh thế cho Rheinart, ngoại giao ủyviên Pháp trong lúc điều đình với Nam-triều ở Huế.
Nhưng Henri Rivière vốn chủ chiến nên khi viết thư về
Sài-gòn, có câu : « Lớp này chúng ta phải cố đứng vững ở
2
Bắc-kỳ » . Rồi y bắn vào thành Hà-nội, rồi y cướp thành.
Được tin, Nam-triều tức giận. Rheinart, vì thế mà hỏng việc,
phải rời Huế vô Sài-gòn.
Hai tháng sau, ngày 19 tháng Năm 1883 thì Henri Rivière
bị quân cờ đen giết ở ô Cầu-giấy (Hà-nội).
Sợi giây giao thiệp đứt.
Ngọn lửa chiến tranh vừa tắt, nhân cơ hội này lại bùng
lên.
Khi tin Henri Rivière bị giết về đến Paris, Nghị-viện lập
tức bàn ngay việc phái viện-binh sang đánh An-nam và có
gửi bức điện sau này cho chức Thống-đốc Nam-kỳ : « Toàn-
https://thuviensach.vn
thể nghị-viện bỏ phiếu thuận xuất tiền ra để đánh lấy Bắc-kỳ.
Nước Pháp sẽ báo thù cho các thần tử ».
Ngày 10 tháng Bẩy, Challemel Lacour, Tổng-trưởng bộ
Ngoại-giao tuyên bố tại Hạ-nghị-viện : « Nếu chịu kiên nhẫn
một chút thì quân ta cũng có thể giữ được Hà-nội mà chờ
viện binh. Song vì quá can đảm nên quân ta không nhịn được
chiến tranh mà chủ-tướng bị hại ».
Kinh thành Huế đón cái chết của Henri Rivière một cách
khác hẳn.
Dân chúng và quan quân cùng vui mừng về cuộc thắng
trận ở Bắc-hà. Quân và dân cùng tưởng tượng như một trận
Cầu-giấy đã trừ cái ách cho nước Nam và sau khi đã giết
Henri Rivière thì người Pháp không bao giờ dám bén mảng
đến bờ cõi nước mình nữa.
Trong Triều, vua Tự-Đức tuy đang ngọa bệnh nhưng cũng
cố gượng ngự triều. Giữa sự hoan-hỉ của triều-đình. Binh-bộ
thượng-thư Trần Tiễn-Thành tỏ ra ý bất-bình. Thành phảnđối việc mở yến tiệc để khao cuộc thắng trận ở Bắc-kỳ, nói :
« Trận tuy thắng nhưng phỏng có ích gì. Giết Henri Rivière
mới là trừ được một người thù. Nhưng rồi đây sẽ có trăm
ngàn người Pháp khác thay cho Henri Rivière. Trận ô Cầugiấy không lợi gì hết mà chỉ hại cho việc giao thiệp của hai
nước sau này. Mai mốt quân Pháp lại kéo ra đánh lấy Hà-nội,
rồi dần dần, lấy cả thành Huế này nữa thì quân ta chống sao
được »…
Tôn-thất-Thuyết tức giận, chê Trần Tiễn-Thành là hèn
nhát. Ý Thuyết muốn đánh, đánh đến kỳ cùng. Nếu nước
https://thuviensach.vn
Pháp mang thêm quân sang đánh lấy Bắc-kỳ mà quân ta xét
không chống nổi thì xin quân cứu viện của Tàu.
Hai bên không đồng ý, cãi nhau kịch liệt.
Trần Tiễn-Thành : « Tôi là người Tàu, lẽ tự-nhiên là tôi
phải nói hay cho nước Tàu. Song cứ xét ở thực-sự thì quân
Pháp tuy ít nhưng tinh nhuệ, lại có khí giới chỉnh bị. Quân
Tàu và ta tuy đông nhưng không có thao luyện. Quân Tàu tôi
dám chắc rằng không thể thắng được quân Pháp ».
Tôn-thất-Thuyết không bàn nữa, phủi áo đứng dậy, nói :
« Ông là người Tàu mà ông khinh nước Tàu. Không biết
nhục ! ».
3
Trần Tiễn-Thành nguyên là giòng giõi người Tàu vì không
phục nhà Thanh và muốn mưu đồ khôi phục lại nhà Minh,
nên trốn sang Việt-nam. Trần Tiễn-Thành là người có thaolược nên được triều-đình Huế tin dùng. Hiện Trần đã được
phong đến chức Văn-minh-diện Đại-học-sĩ, lĩnh Binh-bộ
Thượng-thư. Xét quân mình, mỗi lần đánh là một lần bại,
Trần cho việc giao-chiến với nước Pháp là không thích thời
nên thường khuyên vua Tự-Đức nên giảng hòa. Nhưng, phần
vì quân địch vô cố gây sự, phần vì trong triều số đông chủ
chiến, nên vua Tự-Đức trước sau vẫn do dự, không dám
quyết là nên chiến hay nên hòa.
Nhà vua lại nhân lúc bệnh nguy nên việc nước đành chịu
bỏ cho mấy vị quyền thần. Hai đảng, chiến do Nguyễn-vănTường và Tôn-thất-Thuyết chủ trương và hòa, do Trần-tiễnThành đứng đầu, nhân sự suy nhược của nhà vua mà kéo vây
cánh, chia ra làm hai phái phản đối nhau.
https://thuviensach.vn
Phái muốn giảng hòa với Pháp, phái định đánh nhau đến
kỳ cùng. Hai phái hai chính-kiến. Vậy nếu nói chung cả đoàn
thể thì, triều-đình Huế cũng như vua Tự-đức trước khi lâm
chung không có chính kiến gì hết. Nước Việt-nam như con
thuyền trôi trên giòng nước chẩy mạnh, các thủy thủ vì tranh
nhau tay lái nên không biết lái về phương nào.
Giữa lúc bối rối đó, vua Tự-Đức thăng hà : 19 tháng Bẩy
1883.
https://thuviensach.vn
ĐÀN HẶC NGUYỄN-VĂN-TƯỜNG, PHANĐÌNH-PHÙNG BỊ TỐNG NGỤC
KHI lâm chung, vua Tự-Đức cho triệu Trần-tiễn-Thành,
Nguyễn-văn-Tường và Tôn-thất-Thuyết đến trước long sàng
để ký-thác Thụy-Quốc-Công Ưng-Chân là người theo ý muốn
của vua Tự-Đức, sau này được kế vị.
Nguyên vua Tự-Đức không có con, có nuôi ba người cháu
là Ưng-Chân tức Dục-Đức con trai Kiến-thụy Công Hồng-Y
(con thứ tư vua Thiệu-Trị) và Ưng-Kỵ tức Chánh Mông, ƯngĐăng tức Dưỡng Thiện là con Kiên-Thái Vương Hồng-Cái (con
út vua Thiệu-Trị).
Hồng-Y mất trước khi thành Huế thất thủ. Kiên-tháiVương thì chết một cách không ngờ vào năm 1875. Một buổi
sáng người nhà thấy Vương chết ở trong giường, cổ có một
vết thương và nằm cạnh một con dao cạo. Người ta nói Kiênthái-Vương có máu điên nên mấy hôm trước đi chơi thuyền
đã chực nhảy xuống sông. Song những lời đó, nhiều người
cho là không đúng và ngờ rằng Vương bị ám sát.
Sợ các quyền thần không tôn Thụy quốc-công theo như di
chúc, vua Tự-Đức lại muốn mượn oai-quyền của hai vị
Hoàng-thúc Thọ-xuân-Vương Mân-Định và Tuy-lý Quậnvương Mân-Trinh để kiềm-chế Nguyễn-văn-Tường và Tônthất-Thuyết.
Trong di chiếu, vua Tự-Đức nói : « Thọ-xuân-Vương MânĐịnh và Tuy-lý Quận-vương Mân-Trinh là những bậc lão
https://thuviensach.vn
thành có đức hạnh mà xưa nay trẫm vẫn kiến trọng. Sau này
hai khanh nên vì trẫm mà ngăn ngừa những việc quá lạm về
triều-chánh ».
Lời vua Tự-Đức có làm cho Thọ-xuân-Vương và Tuy-lý
Quận-vương được vị nể. Nhưng binh quyền và chánh quyền
đã về cả tay Tôn-thất-Thuyết và Nguyễn-văn-Tường. Hai vị
Hoàng-thân đành thúc thủ mà nhìn những hành-động
chuyên-chế của Thuyết và Tường. Không những thế, tính
mệnh hai người sau này lại còn gửi ở trong tay Tôn-thấtThuyết.
Thụy Quốc-công Dực-Đức lên ngôi. Trong di chiếu của
vua Tự-Đức đọc ở triều có câu : « Hoàng trưởng-tử
4
nay đã
5
khôn lớn, nhưng có tính dâm đãng nên chẳng được tốt . Tuy
vậy nước có vua lớn là phúc cho xã tắc, nếu bỏ biết lấy ai
thay ? »
Dục-Đức nghe mấy câu ấy, không bằng lòng, nói riêng
với ba vị phụ chánh, xin bỏ tám chữ, rồi hãy thông lục ra các
tỉnh. Thành không trả lời, Tường và Thuyết thì nhất định
không nghe. Dục-Đức tức giận, nói quả quyết rằng thế nào
cũng trả thù được mới nghe. Biết vậy, Tường, Thuyết mới
xướng lên việc phế, lập. Trần Tiễn-Thành bất-đắc-dĩ phải
theo. Rồi cả ba người cùng vào cung, xin Từ-Dụ Thái-hậu bỏ
Dục-Đức mà lập Lãng Quốc-công Hồng-Dật là con út vua
Thiệu-Trị (em vua Tự-Đức).
Tường, Thuyết khép Dục-Đức vào ba tội :
1. Đòi bỏ bớt lời di chiếu.
2. Đương có tang mà mặc áo sặc sỡ.
https://thuviensach.vn
3. Dâm đãng và thích ăn ngon.
Liền đó, Dục-Đức bị tống ngục !
Trước khi chết, ông đã trải qua một hồi cơ cực.
Theo lệnh Tôn-Thất Thuyết, giám ngục không cho ai được
mang thức ăn hoặc uống dâng vua. Nhưng may có vị quan
nhỏ thương tình chủ cũ, nhân một khe ngạch, ngày ngày đút
một nắm cơm vào cho Dục-Đức dùng. Muốn cho nhà vua khỏi
khát, vị quan ấy phải xấp nước một cái áo cũ đút vào khe
ngạch Dục-Đức vắt nước ở trong áo ấy ra mà uống. Nhờ ơn vị
quan kia, Dục-Đức sống thoi-thóp được ít ngày. Sau mưu cơ
bại lộ. Tôn-Thất Thuyết cho lấp khe lại.
Dục-Đức chết đói.
Đình thần phần nhiều bất bình về việc phế Dục-Đức,
nhưng không ai dám phản đối, sợ gây thù với bọn quyền
thần. Đô-sát-viện có quyền đàn hặc, nhưng trong 16 quan
Ngự-sử tại Đô-sát-viện thì vây cánh Tôn-Thất Thuyết có tới 6
người.
Tuy vậy, Đô-sát-viện cũng cử Phan-đình-Phùng trỉ-trích
Nguyễn-văn-Tường và Tôn-Thất Thuyết.
Có người báo trước, Tường cho quân mai phục sẵn. Khi
họp quần thần, Tường cứ lẳng lặng để cho Phan-đình-Phùng
phân trần. Nhưng Phan vừa nói dứt lời thì Tường liền ra hiệu.
Quân mai phục bốn phía đổ ra, trói Phan-đình-Phùng mà hạ
ngục.
Bảy hôm sau khi vua Hiệp-Hòa lên ngôi, Phan-đình-Phùng
mới được tha, nhưng bị lột hết chức tước.
https://thuviensach.vn
Phan người làng Đông-Thái phủ Đức-thọ tỉnh Hà-tĩnh, đỗ
Đình-nguyên đời hoàng-giáp Tự-Đức và làm quan đến chức
Ngự-sử.
Sau khi ra khỏi thành Huế, Phan liền lui về lập ấp ở Vũquang, giáp giới hai huyện Hương-sơn và Hương-khê (Hàtĩnh). Ông chiêu mộ hào-kiệt các nơi, phái người xuất dương
du-học và khởi quân cần vương chống nhau với quân Pháp dữ
dội trong mấy năm 1892-1895.
Phan giữ bốn tỉnh phía Bắc, tổ chức quân đội rất có trật
tự. Quân phục của quân Phan-đình-Phùng giống như quân
phục của lính khố xanh, dùng súng kiểu 1874 do Phan-đìnhPhùng chế lấy, nhưng khác súng của người Pháp có hai chỗ là
cò yếu và trong lòng súng không có khe nên đạn bắn không
được xa. Tuy vậy quân Phan cũng đã giết hại rất nhiều quan
quân đi đánh dẹp.
Về việc Phan-đình-Phùng, Đại-úy Gosselin viết : « Những
việc cũ lại lần lượt xẩy ra : quan đại-biểu của triều-đình Huế
bị bắt và bị giết, thành bị cướp, làng bị phá, cuộc khủng-bố
lan ra khắp vùng trong ba năm trời. Cuối năm 1895, cuộc
chống-chọi kém và không có vẻ thống nhất ; vì một cái dấu
hiệu bề ngoài rất tầm thường, người ta biết đích là Phanđình-Phùng đã chết về bệnh lỵ và lao-lực nhiều quá vì phải
lẩn-lút ở trong rừng để tránh quân Pháp luôn luôn tầm-nã.
Xác ông bị Nguyễn-Thân quật lên đưa về nguyên quán ở Hàtĩnh, ngay phía dưới dồn Linh-cảm. Tới nơi, quan quân thiết
thiêu-đàn rồi rội dầu hỏa vào đốt cho đến khi xương thịt cháy
hết mới nhặt tro mà rắc xuống sông. Các đồng-chí của ông,
người nào không chạy qua Lào mà trốn thoát sang Xiêm đều
https://thuviensach.vn
bị bắt giải về Huế xử-tử ».
https://thuviensach.vn
TÔN-THẤT THUYẾT, CON HÙM XÁM CỦA
TRIỀU-ĐÌNH HUẾ
THUYẾT là người thế nào mà đã gây được cuộc khủng-bố
tại triều-đình Huế, đã đóng vai Thủ-tướng độc-tài ở một thờiđại mà người ta còn hết sức tôn-trọng quân-quyền.
Tôn-Thất Thuyết, người trong hoàng-phái, sinh năm 1835
tại Huế. Xuất thân là võ-tướng, trải qua nhiều cuộc chinh
chiến, Tôn-Thất Thuyết lần lượt lên đến chức Phụ Chính đại
thần. Sau khi Trần Tiễn-Thành bị hành-thích, Thuyết kiêm cả
chức Binh-bộ Thượng-thư. Thế là binh quyền và chánh-quyền
của Nam-triều thu cả trong một tay Tôn-Thất-Thuyết.
Năm vua Tự-Đức băng-hà, Thuyết đã gần 50 tuổi, nhưng
coi còn rất tráng-kiện.
Theo lời thuật thì « Tôn-Thất Thuyết giỏi về võ nghệ, tính
hung hãn và ham hoạt-động ; người vạm vỡ, bụng hơi bệu,
đầu cạo trọc nên đội khăn khó. Người trong thời thường khen
Thuyết là không ưa những lối trang sức bề ngoài ».
Lời phê-bình ám hợp với những hành động của Thuyết khi
ra dẹp giặc ở Bắc-kỳ. Người ta thuật lại, khi ở Bắc-ninh, quân
Thuyết đóng ở phương nào thì phương ấy phải lặng như tha
ma.
Những tiếng động, không cứ là trống mõ hay giun dế đều
làm cho Thuyết tức giận. Cho nên quân Thuyết đi đến đâu thì
thôn dân lập tức phải đập chết gà, chó, hoặc mang đi gửi nơi
khác, chờ cho Thuyết đi khỏi rồi mới mang về, không thế, tất
https://thuviensach.vn
bị trọng tội.
Một hôm Thuyết ra chơi ngoài phố, chợt thấy một đứa bé
đang chửi mẹ, Thuyết đứng lại xem và hỏi tuổi đứa bé. Mẹ nó
thưa là nó lên 6 tuổi. Ngồi vào mâm cơm ăn, đứa bé vừa trở
đầu đũa thì bị Thuyết sai lính mang ra chém, cho rằng đứa
bé đã khôn (biết trở đầu đũa) mà còn chửi mẹ là bất hiếu !
Tại Huế, Thuyết giết không biết bao nhiêu mạng người.
Người ta nghiệm thấy rằng sáng nào Thuyết vui vẻ ra hầu thì
không xảy ra sự gì. Nhưng sáng nào, Thuyết ra ngồi côngđường mà mặt đã cằm cặm, ngồi khom khom có vẻ tức giận
thì hôm ấy ít nhất cũng có một người bị Thuyết chém.
Cái tính hiếu sát làm cho khắp đình thần phải sợ oai vũ
của Thuyết. Nhất là quyền của Tôn-Thất-Thuyết lại tăng lên
đến cực điểm, từ sau khi vua Tự-Đức thăng hà.
Một viên hành-tẩu bộ Binh tên là Chuyên tình cờ bị
Thuyết bắt được đang đọc một câu phong-dao nói xấu
Thuyết, lập tức bị Thuyết sai đao-phủ-thủ mang ra chém,
không ai dám xin mà dù ai xin cũng không được.
Nguyên thời bấy giờ có một câu phong-dao rất thịnhhành, mà ngày nay người Huế cũng chưa quên, là : « Nước
Nam có bốn gian-hùng : Tường gian, Viêm dối, Khiêm khùng,
Thuyết ngu
6
lại thêm hai thằng vũ phu : Đề Đức, Đề Soạn
dương mu chịu đòn ».
7
Trong sáu người bị kể ở câu phong-dao này thì Tôn-thất
Thuyết là người bị mạt xát hơn cả.
Người bấy giờ thường khinh lối võ đoán của Tôn-Thất
https://thuviensach.vn
Thuyết, cho Thuyết xuất thân ở nơi quân ngũ, không đủ trí
thức làm những việc có ý nghĩa như các quan văn.
Lời xét đoán đó theo ở sự ham chuộng khoa cử trong hồi
bấy giờ.
Nhưng nếu phán đoán cao lên một bậc nữa, thì cái bệnh
ham giết người của Thuyết tuy đáng trách, nhưng chánh sách
độc đoán của Thuyết cũng không nên vin vào sự thất bại mà
chê.
Mấy năm sau cùng, vua Tự-Đức đã mất hết nghị lực phấn
đấu. Triều thần thì kẻ chủ chiến, người chủ hòa, nhưng dù
chiến hay hòa, hai phái cũng chỉ vật nhau bằng lưỡi, chứ
không ai chịu hành động gì cả. Mấy ông vua kế vị vua TựĐức thì, đối với triều đình chưa có oai quyền, với thần dân
không đủ tín nhiệm. Vậy trong triều tất phải có một người có
định kiến. Người ấy là Tôn-Thất Thuyết. Mà muốn cho cái
định kiến kia có thể thực hành được thì thế tất phải trừ
những người không đồng ý với Thuyết.
Triều thần, người nào chủ hòa đều bị coi là thù chung của
nước Nam và thù riêng của Tôn-Thất Thuyết.
Không những Thuyết không để cho phái phản đối mang
cái tư tưởng hòa bình ra thực hành mà lại còn lấy uy vũ bưng
miệng mọi người, cấm không ai được phát biểu tư tưởng ấy.
Thuật việc về thời bấy giờ, một bạn đồng liêu với TônThất Thuyết là Huỳnh-Côn nói : « Chúng tôi sợ lối xử trí ấy
không biết nhường nào nên trăm miệng đều kín như bưng.
Các quan liêu nếu có bàn tán điều gì thì phải đóng kín cổng
và giữ cực kỳ bí-mật ».
https://thuviensach.vn
Tuy vậy, trong giới nào cũng có tai mắt của Tôn-Thất
Thuyết, vì vây cánh của Thuyết cực đông. Cho nên một vị
Án-sát là Tôn-thất Bá ở Bắc-kỳ vô Kinh chỉ nói có một câu : «
Sức người Pháp mười phần, ta chỉ có hai phần » cũng đến tai
Thuyết ngay. Cách mấy giờ sau Tôn-Thất Bá bị bắt, trói và
giam tại ngục Phù-thừa mãi đến khi người Pháp hạ thành Huế
(1885) mở cửa ngục Tôn-Thất Bá mới được ra khỏi.
Không chịu nổi cái không khí chuyên chế của Tôn-Thất
Thuyết, Trần-Tiễn Thành xin cáo về, triều-đình không thuận,
Trần phải từ chức Binh-bộ Thượng-thư, lui về Quốc-sử-quán.
Tôn-Thất Thuyết là một tử thù của nước Pháp. Nhưng
người Pháp đối với Thuyết chỉ có oán với trọng, mà không có
khinh.
Các sĩ quan Pháp dự việc hạ thành Huế hầu hết khen ngợi
lối tổ chức quân đội của Thuyết và nhận rằng quân An-nam
thua là vì khí-giới kém chứ không phải xếp đặt vụng.
Về việc làm của Tôn-Thất Thuyết, lại cũng những sĩ quan
ấy nói : « Những việc bạo-động mà Tôn-Thất Thuyết làm
nhiều khi thúc giục bởi tấm lòng chân thành yêu nước ».
Khi Tôn-Thất Thuyết chết ở Long-châu (1913), người Tàu
viếng ông đôi câu đối sau này : « Thù Nhung bất cộng đái
thiên, vạn cổ phương danh lưu Tượng-quận ; Hộ giá biệt tầm
tĩnh địa, thiên niên tàn cốt ký Long-châu ». Thù ngoài không
8
đội trời chung, muôn thuở tiếng thơm ghi Tượng-quận
;
Giúp chúa riêng tìm cõi thác, ngàn năm xương bạc gửi Longchâu.
9
https://thuviensach.vn
NGUYỄN VĂN-TƯỜNG
TRONG Việt-sử, cái tên thường đi liền với Tôn-Thất
Thuyết là Nguyễn Văn-Tường.
Tuy vậy, hai người chỉ liên lạc với nhau đến hết ngày
mồng 5 tháng bảy năm 1885. Sau khi người Pháp hạ thành
Huế thì Thuyết đưa vua Hàm-Nghi đi trốn, lo khôi phục lại cơđồ mà Tường thì chạy sang phía địch để cầu lấy cái phú-quý
mà thực ra Tường không được hưởng.
Nguyễn Văn-Tường, người xã An-xá-trung, tỉnh Quảngtrị, sinh năm 1820.
Sinh ở một nhà bình dân. Tường ham học, có nghị-lực,
năm 1852 đỗ cử nhân.
Được bổ làm Hành-tẩu bộ Hình (1854), rồi ra tri huyện
Quỳnh-lưu.
Năm 1857, Tường giữ chức tri-phủ Lương-giang. Hai năm
sau, trở về bộ Công rồi ra Án-sát Thanh-hóa.
Năm 1862, Tường lại quay về Huế làm biện lý bộ Công.
1863, cha chết, Tường về quê chịu tang. Tiếp lại mẹ chết,
nên mãi đến năm 1865, Tường mới lại quay vào làm Phủdoãn Thừa-thiên. Nhưng được một năm thì Tường có lỗi, bị
giáng chức.
Năm 1866, Tường bị cử ra làm chức Khâm-phái ở Quảngtrị ; 1873, Tường đột nhiên được thăng Hữu-tham-tri bộ Lễ,
cử vô Saigon, tiếp lại ra Bắc điều-đình với Ngoại-giao ủy-viên
Pháp Philastre để lấy lại mấy tỉnh Bắc-kỳ mà đại-úy Francis
https://thuviensach.vn
Garnier đã chiếm được.
Năm 1874, Tường được vua Tự-Đức cho toàn-quyền ký
hòa ước với nước Pháp. Nhân đấy, Tường được người Pháp
tặng Đệ-nhị-đẳng Bắc-Đẩu bội-tinh và vua Tự-Đức phong cho
tước Kỳ-vĩ bá và quyền chức Thượng-thư bộ Hộ, xung Cơ-mật
viện Đại-thần, kiêm cả việc giao-thiệp với nước Pháp cho đến
năm 1881.
Khi vua Tự-Đức băng hà, Tường được đứng đầu hàng
phụ-chánh.
Lần lượt leo đến bậc sau rốt trên bước thang sĩ-hoạn,
Tường tỏ ra là người có mưu-trí, nhẫn nhục và thức thời.
Khi thất thế, bị đuổi về Quảng-trị (1866), Tường làm
công việc của kẻ bị đày ải cũng kiên nhẫn như khi ngồi ghế
Phủ-doãn Thừa-thiên. Cho nên vua Tự-Đức thương mà phục
chức cho ở triều đình Huế.
Mười hai tháng phát lưu ở Quảng-trị giúp cho Tường xem
xét rành mạch nơi này. Khi vua Tự-Đức gia cho Tường xây
thành Tân-sở làm hậu thuẫn cho triều đình Huế phòng gặp sự
biến nguy Tường vẽ kiểu, rồi Tường lại đứng đốc công, không
nề gì khó nhọc.
Chỗ đáng trách hơn hết là Tường đã nhị tâm. Sau khi vua
Tự-Đức mất, người ta ngờ rằng Tường muốn nhờ sức ủng hộ
của quân Pháp mà lập con mình lên làm vua. Nhưng trong
triều còn có các vị hoàng thân có quyền thần và nhất là có
Tôn-Thất Thuyết nên Tường về cánh với Thuyết, cũng chủ
chiến như Thuyết, chủ đích mượn tay Thuyết để trừ những
người có thể làm trở ngại cho việc mình.
https://thuviensach.vn
Nguyễn Văn-Tường lại trở về nghề làm thuốc, đi lại trong
cung, được Từ Dụ Thái-hậu tin dùng. Quyền của Từ Dụ Tháihậu ở Huế không kém gì quyền Từ-Hi Thái-hậu, nhà Mãnthanh. Trong được lòng Thái-hậu, ngoài dựa vào thế lực TônThất Thuyết, Tường tự ý lập và bỏ vua. Tống ngục Dục-Đức,
giết vua Hiệp-Hòa, đày Tuy lý Vương, giết Trần Tiễn-Thành.
Mấy việc đều do Tôn-Thất Thuyết làm, nhưng chủ mưu ở
Nguyễn văn-Tường. Trong câu phong-dao « Tường gian,
Thuyết ngu » người đương thời muốn chỉ rằng Thuyết bị lợi
dụng mà không biết.
Cái thái độ mờ ám của Nguyễn văn-Tường đến khi thành
Huế thất thủ thì rõ rệt ra ngay. Tôn-Thất Thuyết bị thất bại,
đưa vua Hàm-Nghi đi trốn, Tường lẻn ra hàng. Nhưng cũng
chẳng giúp nổi được việc gì cho chủ mới, Tường bị Thống soái
De Courcy đày ra Côn-đảo với Phạm Thận-Duật và Tôn-Thất
Đính là cha Tôn-Thất Thuyết.
Sau Tường bị chuyển sang đày ở Tahiti, hằng năm Chánh
phủ trợ cấp 60.000 quan. Nhưng vừa tới Papeiti là một hải
cảng của Tahiti thì Tường chết.
Hài cốt được đưa về táng ở Quảng-trị.
https://thuviensach.vn
ĐÔ ĐỐC COURBET BẮN VÀO CỬA
THUẬN
DỤC-ĐỨC bị phế, Tường và Thuyết tôn Lãng Quốc-công
là con út vua Thiệu-Trị lên làm vua lấy hiệu là Hiệp-Hòa.
Triều thần không ai dám phản kháng gì hết. Phan đình-Phùng
bị tống ngục và làm thất-đảm tất cả mọi người. Quần thần
đành phải ngậm miệng đứng nghe Nguyễn trọng-Hiệp, Lại-bộ
thượng thư đọc tờ chiếu của Từ-Dụ thái-hậu lập vua mới.
Vua Hiệp-Hòa, một thi sĩ ưa cái thú ngâm hoa vịnh
nguyệt hơn là miếng đỉnh chung. Các triều thần phải đến tận
phủ riêng của ông ở Kim-long nài ép ông mới chịu về cung,
để gánh lấy một cái trách nhiệm mà tự ông cũng biết là nguy
ngập.
Việc Lưu Vĩnh-Phúc (Cờ-đen) giết thiếu tá Henri Rivière ở
Sơn-tây gây một mối thù giữa hai nước Pháp, Nam. Cuộc
chiến tranh mà Tôn Thất Thuyết cùng phái ông mong mỏi từ
trước đến giờ, tất phải có.
Chánh phủ Pháp quả quyết chinh-phục nước Nam.
Trong bài diễn văn đọc tại Hạ nghị-viện Pháp ngày 10
tháng Bẩy 1883 Challemel Lacour, Ngoại giao tổng trưởng :
« Trước kia cũng tưởng cử đặc biệt ủy viên sang để nhắc cho
vua Tự-Đức thi hành hiệp-ước 1874. Nhưng nay quân Cờ-đen
đã rõ rệt là quân vua Tự-Đức ; vua Tự-Đức là thù của nước
Pháp. Ủy viên ấy đã phải gọi về và nay phải giải quyết việc
Viễn-đông bằng chiến tranh. Sẽ có một người am hiểu xứ
https://thuviensach.vn
Bắc-kỳ đứng chỉ huy : Người ấy được cử làm Chánh-phủ ủyviên và đã tiếp các mệnh lệnh của Chánh phủ ! »
Người mà Lacour nói là Harmand. Ông này trước là y-sĩ
ngạch Hải-quân tới Bắc-kỳ lần đầu năm 1845 và đã đứng chỉ
huy đội quân hạ thành Nam-định.
Harmand được Chánh-phủ Pháp ủy cho toàn quyền đối
phó với nước Nam. Các võ quan đánh phá nơi nào phải bàn
trước với ông và phải do nơi ông mới giao thiệp được với
Chánh-phủ Pháp.
Ngày 16 tháng tám 1883, hải quân Pháp do thủy-sư Đôđốc Courbet chỉ huy tới Đà-nẵng (Tourane). Hải đội gồm có
hai thiết giáp hạm : Bayard và Atalante ; một vận tải :
Annamite ; hai tuần dương hạm : Drace, Chateau Renaud ;
hai pháo thuyền : Vipère và Lynx.
Harmand và De Champeaux đóng trên thiết giáp hạm
Bayard.
Khi hải-đội Pháp tới cửa Thuận, Courbet liền phái một sĩ
quan đáp thuyền nhỏ đưa tối-hậu-thư vào cho Chánh-phủ
Nam-triều, hẹn đến chiều 18 tháng tám nếu Triều-đình Huế
không chịu nộp cho quân Pháp các pháo đài (đồn) ở cửa
Thuận-an thì Đô-đốc khai chiến.
Lá thư cấp bách làm cho Triều-đình hoảng sợ. Phái chủ
hòa muốn nộp phắt ngay cửa Thuận cho quân Pháp để giữ
thế bình yên. Vua Hiệp-Hòa thì do dự. Nhưng Tôn-Thất
Thuyết nhận thư một cách thản-nhiên !
Ngay hôm đó, ông cùng với con trai là Tôn-Thất Đảm
https://thuviensach.vn
thân đốc thúc đại quân chở thêm súng khoa-sơn ra các đồn
hiện còn chưa chỉnh bị.
Tôn-Thất Thuyết vốn dự bị cuộc tranh đấu ở cửa Thuậnan đã lâu. Vì cửa biển này là cái ngõ của kinh thành Huế. Nếu
cửa Thuận mất thì địch quân có thể theo giòng sông Thuậnan mà áp và đến tận kinh thành.
Biết thế hiểm, trong mười năm liền Tôn-Thất Thuyết đã
cho xây pháo đài ở cửa bể và hai bên vệ sông. Những pháo
đài ấy có súng ống, có kho đạn và có một hàng đại bác dàn
mặt.
Pháo đài xây trên bãi cát, đứng ngoài biển nom vào, lồ lộ
như những trái núi con.
Trong khi quân Pháp dự bị hạ thành Thuận-an thì TônThất Thuyết cũng đã chờ sẵn để tiếp chiến.
Ngày 18 tháng Tám, hai bên cùng nóng lòng chờ cho
chóng tối và cùng tự tin rằng thắng sẽ về mình và cuộc chiến
tranh này sẽ giải quyết được vấn đề Việt-nam.
5 giờ rưỡi chiều, hạn phúc thư của triều đình Huế hết.
Một trái đạn đại bác đi theo với tiếng nổ từ ngoài biển
gieo mạnh vào đồn Hải đài. Tiếp đến, trái thứ hai, thứ ba.
Năm phút sau, tiếng đại bác liên thanh. Đạn như mưa rội
xuống Hải-đài, một cái thành kiên cố của Nam-triều ở phía
Bắc cửa Thuận-An bị bọc trong màn khói.
Đáp lại món quà của hải quân Pháp, quân Việt-nam từ
trên đồn dùng súng Khoa-sơn bắn đạn lớn về phía hai chiếc
thiết giáp hạm Bayard và Atalante. Mặt nước yên lặng của
https://thuviensach.vn
cửa Thuận-an phút chốc đã thành cái mồ chung cho mấy
ngàn chiến sĩ.
Cửa Thuận-an như một cái ngõ hẻm phía Bắc có đồn Hảiđài, phía nam có Hà-nhuận.
Phía trong đồn Hải-đài có một Ngự lâu. Chốn này bị cuộc
chiến tranh đổi thành pháo đài. Trước lầu Nam quân đặt một
giẫy 4 khẩu thần-công. Đội quân nhỏ ấy làm cho hải-quân
Pháp phải kinh ngạc, nó không chịu kém quân Pháp một viên
đạn nào ! Không những hai lần nó bắn trúng pháo thuyền
Vipère đỗ ở phía trong, mà lại còn bắn tràn ra thiết giáp hạm
Bayard đỗ ở ngoài khơi xa lắc.
Tiếp với Hải-đài, đồn Hà-nhuận của Nam quân cũng bắn
liên thanh. Chỗ yếu của quân Nam là súng của mình toàn
một hạng súng đồng bắn bằng đạn đặc và lắp vô đằng
miệng, sức đi yếu quá, phần nhiều rơi xuống bể.
Súng của hải-quân Pháp đúc theo kiểu mới (sau hồi
Pháp-Phổ chiến tranh) bắn có hiệu lực hơn, làm cho Namquân chết hại cực nhiều. Nhưng khuyết-điểm chẳng làm giảm
nhuệ-khí của Nam-quân. Một người lính này chết lập tức có
một người lính khác ra thay, xác nọ chồng lên xác kia, các
chiến sĩ như đã thề cùng nhau ở cửa Thuận.
Đêm 18, Nam-quân lại có thêm viện binh từ Huế kéo ra.
Suốt hai ngày 19 và 20, cuộc tranh đấu kịch-liệt một
cách không ngờ !
Nhưng đang đêm, quân Pháp xuất kỳ bất ý đánh chẹn
ngang đồn Hải-đài. Sau một loạt súng từ mặt bể đưa vào,
https://thuviensach.vn
Nam-quân chết gục cả xuống ngay miệng súng.
Sáng 21 tháng tám, hai pháo-thuyền Vipère và Lynx của
Pháp xông vào hải-khẩu đồn Hải-đài đã im tiếng súng. Nhưng
về phía nam, đồn Hà-nhuận vẫn bắn. Rồi các đồn Hạp-châu,
Cồn-sơn, Hi-dụ, Lộ-châu, Phổ-lợi cũng tiếp với đồn Hà-nhuận
mà bắn vào pháo thuyền của địch-quân.
Thế đã kém. Kho đạn trên đồn Hạp-châu lại bị nổ. Namquân núng.
Thừa thắng, Thủy-sư Đô-đốc Courbet ra lệnh bắn chặn
vào hai bên hải-khẩu, rồi kéo lên bộ. Những chông mà Namtriều cắm chìm trên bãi cát, trước tưởng có lợi, nhưng dưới đế
giầy của lính Pháp nó chẳng có hiệu lực gì.
Quân Pháp cướp luôn mấy đồn trên cửa Thuận-an.
Công xếp đặt của Nam-triều trong mười năm rút lại bị
Hải-quân Pháp phá vỡ trong ba buổi.
Trong bảy pháo-đài lớn giữ cửa Thuận-an có một đồn, khi
quân Pháp đến vẫn chưa xây xong.
Đồn ấy là Cồn-cỏ do một vị quan là Trần-tiếp-Thành đứng
đốc công phía tây đồn vẫn bỏ ngỏ để chịu đạn của quân
Pháp.
Việc phòng thủ cửa Thuận là một công cuộc lớn của Namtriều. Tổ chức việc che chở cho bờ cõi phía Đông, Nam-triều
đã chẳng ngại tốn của, tốn công. Nam-quân có vì khí giới
kém mà bị thất bại, nhưng cái khí hào-hùng còn phảng phất
ở cửa Thuận-an, trên bãi cát trắng đã chôn mấy ngàn tử-sĩ.
10
https://thuviensach.vn
MỘT HÒA ƯỚC KÝ TRÊN VŨNG MÁU
HẢI QUÂN Pháp đã chiếm được đồn Hải-đài, ở phía bắc
cửa Thuận. Những thành-trì kiên cố của đồn này và Ngự-lâu,
thốt thành ra những bức tường mạnh-mẽ để che-chở cho
11
địch quân. Chiếc cầu lớn của Chiêu-thương cục là một công
ty buôn của người Tầu ở cửa Thuận bị người Pháp dùng làm
cầu đổ bộ cho pháo binh. Binh-sĩ Pháp chỉ chịu khó đẩy mấy
ngàn xác chết của Nam-quân ở đồn và trụ-sở Chiêu-thươngcục ra là đủ có một đồn Hải-quân rộng rãi.
Phía nam, các đồn Hà-nhuận, Hạp-châu, Lộ-châu, Cồnsơn, Cồn-cỏ, Hi-dụ và Phổ-lợi vẫn cố chống. Nhưng những
tiếng súng lẻ tẻ bắn vào chỗ hư không như báo cho bên địch
biết rằng Nam quân đã vì sự nghèo khí-giới, nghèo đạn dược
mà nghèo luôn cả sự hăng hái hy-sinh cho bờ cõi.
Mấy giờ liền, các đồn ở cửa Thuận đồng thời dâng biểu về
triều xin viện binh. Nhưng kho tàng đã cạn, cũng như cái chí
phấn đấu của một nửa triều đình đã chết ngay từ khi chưa có
cuộc chiến tranh. Vua Hiệp-hòa thiết triều, các đình thần đều
chủ hòa. Ngay tối 21 tháng tám, Nam triều cử Lại-bộ thượngthư Nguyễn-trọng-Hợp ra cửa Thuận xin đình chiến.
Muốn cho điều đình được dễ dàng triều đình cử thêm cố
Gaspard (cố Kim Long) cùng đi với quan Lại-bộ thượng-thư.
Nguyễn-trọng-Hợp ra đến cửa Thuận thì trời đã tối xẫm.
Ông hạ lệnh cho các đồn Nam đình bắn. Nhưng ngoài biển, từ
các chiến hạm của quân ...
Tên sách : VUA HÀM NGHI
Tác giả : PHAN TRẦN CHÚC
Nhà xuất bản : CHINH-KÝ
Năm xuất bản : 1951
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : alegan, khibungto, alittleNu, baothong158qt,
kayuya, Skellig, truongquang0500, lion8, Anh9902, fathao,
Kiểm tra chính tả : Ngô Thanh Tùng, anfat3, Tào Thanh
Huyền, Vũ Thị Xuân Hương, Trần Ngô Thế Nhân
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 18/11/2018
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận
« SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG
BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG
Cảm ơn tác giả PHAN TRẦN CHÚC và nhà sách CHINHKÝ đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
CÁI OAI TÀN CỦA VUA TỰ-ĐỨC
ĐÀN HẶC NGUYỄN-VĂN-TƯỜNG, PHAN-ĐÌNH-PHÙNG BỊ
TỐNG NGỤC
TÔN-THẤT THUYẾT, CON HÙM XÁM CỦA TRIỀU-ĐÌNH HUẾ
NGUYỄN VĂN-TƯỜNG
ĐÔ ĐỐC COURBET BẮN VÀO CỬA THUẬN
MỘT HÒA ƯỚC KÝ TRÊN VŨNG MÁU
VUA HIỆP-HÒA CHỌN MỘT TRONG BA CÁCH CHẾT
TRẦN-TIỄN-THÀNH BỊ GIẾT, TUY-LÝ-VƯƠNG BỊ ĐẦY VÔ
QUẢNG-NGÃI
NGUYỄN-VĂN-TƯỜNG ĐỊNH XÉ HÒA-ƯỚC 25 THÁNG TÁM
VUA HÀM-NGHI : QUÃNG ĐẦU CỦA MỘT CUỘC ĐỜI LUÂNLẠC
HAI MƯƠI BA THÁNG NĂM KINH THÀNH THẤT THỦ
CHẠY RA QUẢNG-TRỊ
TRONG KHI VĨNH BIỆT
ĐƯỜNG ĐI CÔN ĐẢO
NGUYỄN HỮU ĐỘ
BỎ TÂN-SỞ, THUYẾT ĐƯA VUA RA BẮC
ĐẢNG VĂN THÂN
BỊ CHẸN ĐƯỜNG ĐỘNG-HẢI VUA HÀM-NGHI LÁNH SANG LÀO
THỐNG-SOÁI DE COURCY LẬP VUA ĐỒNG-KHÁNH
QUA ĐÈO QUI-HỢP
VUA HÀM-NGHI XUỐNG CHIẾU CẦN-VƯƠNG
LÊ TRỰC DẤY QUÂN Ở THANH-THỦY
ĐỘI QUÂN MƯỜNG CỦA TRƯƠNG QUANG-NGỌC
https://thuviensach.vn
PHAN ĐÌNH-PHÙNG VÀ ĐINH NHO-HẠNH KHỞI BINH Ở VỤ
QUANG
CUỘC SĂN NGƯỜI
TẠI QUẢNG-BÌNH TƯỚNG PHÁP DỤ LÊ-TRỰC
HAI LÁ THƯ CỦA QUAN NGUYÊN ĐỀ-ĐỐC HÀ-NỘI
NGUYỄN-PHẠM TUÂN MẮC PHẢN
CHÀNG THANH-NIÊN TRÊN SÔNG NAI
VUA HÀM NGHI BỊ BẮT
TÔN THẤT ĐẠM TUẪN TIẾT
TRƯỚC KHI LÌA NƯỚC
1889-1935
https://thuviensach.vn
PHAN TRẦN CHÚC
VUA HÀM NGHI
Nhà sách Chinh-Ký
63B, Phố Sinh Từ – Hà-Nội
XUẤT BẢN
https://thuviensach.vn
VUA HÀM NGHI của Phan-trần-Chúc do nhà sách
Chinh-Ký xuất-bản, in lần thứ ba tại nhà in Vĩnh-Thịnh –
Hanoi.
https://thuviensach.vn
CÁI OAI TÀN CỦA VUA TỰ-ĐỨC
1882-1883 – Về hai năm cuối đời Tự-Đức, lá cờ của
triều Nguyễn ủ rũ, vì đã trải qua mấy phen thất-bại ở chiến
trường.
Lốt chân người Pháp dẫm lên gần khắp cõi Đông-dương.
Bức đồ Việt-nam thoạt tiên bị cắt đứt ba tỉnh Biên-hòa, Giađịnh, Định-tường (5 tháng Sáu 1862). Ngày 25 tháng Sáu
1867, Nam-triều mất nốt ba tỉnh Vĩnh-long, Châu-đốc và Hàtiên. Thế là trọn xứ Nam-kỳ đã về tay người Pháp mà chỉ còn
giữ lại có hai trăm mẫu ở hai xã Linh-chung và Tân-mỹ thuộc
tỉnh Biên-hòa, làm của hương hỏa để tế họ Đỗ và họ Phạm là
họ Từ-Dụ Thái-hậu, mẹ vua Tự-Đức.
1
Trung và Bắc-kỳ tuy vẫn còn là của nhà Nguyễn, nhưng
theo điều thứ ba, hiệp ước ngày 15 tháng Ba 1874 « vua Annam không được phép ký thương-ước với bất cứ một nước
nào mà không hợp với thương-ước Pháp-Nam và mỗi lần
giao-thiệp với một ngoại-quốc phải trình trước đại-biểu
Chánh-phủ Pháp ».
Nước Nam dồn lại chỉ còn có hai xứ là Trung, Bắc-kỳ. Hai
xứ ấy lại cũng không được độc-lập hoàn-toàn. Vì ngoại giao
của nó đã phải đi theo đuôi ngoại giao nước Pháp.
Trong một nước tạm yên : Những trận đánh ở Bắc-kỳ
thoắt đổi làm cuộc giao-thiệp hòa-bình. Nhưng vua Tự-Đức
không chịu nổi cái mầm bảo-hộ của người Âu, nên quay về
lối ngoại-giao cổ của nước Nam. Ngày 25 tháng Chạp 1880,
Nam-triều đệ các đồ tiến cống sang nhà Thanh và gây mối
https://thuviensach.vn
giao-thiệp cũ với Trung-hoa, có ý mượn sức người Tàu để trừ
người Pháp.
Việc làm của vua Tự-đức trái với hiệp-ước Pháp-Nam.
Ngày 13 tháng Ba 1882, Le Myre de Vilers là Thống-đốc
Nam-kỳ có gửi một bức thư ra trách vua Tự-Đức.
Cuộc xung-đột này chưa giải quyết thì lại xẩy ra việc Le
Myre de Vilers cử Thiếu-tá Henri Rivière ra Bắc để án ngữ
thành Hà-nội.
Le Myre de Vilers hẹn Thiếu-tá Henri Rivière không được
động binh. Quân Pháp đóng ở tô giới, quân Nam giữ trong
thành. Bản ý Le Myre de Vilers là cho Thiếu-tá Rivière ra thị
uy ở Bắc-kỳ để giúp thanh thế cho Rheinart, ngoại giao ủyviên Pháp trong lúc điều đình với Nam-triều ở Huế.
Nhưng Henri Rivière vốn chủ chiến nên khi viết thư về
Sài-gòn, có câu : « Lớp này chúng ta phải cố đứng vững ở
2
Bắc-kỳ » . Rồi y bắn vào thành Hà-nội, rồi y cướp thành.
Được tin, Nam-triều tức giận. Rheinart, vì thế mà hỏng việc,
phải rời Huế vô Sài-gòn.
Hai tháng sau, ngày 19 tháng Năm 1883 thì Henri Rivière
bị quân cờ đen giết ở ô Cầu-giấy (Hà-nội).
Sợi giây giao thiệp đứt.
Ngọn lửa chiến tranh vừa tắt, nhân cơ hội này lại bùng
lên.
Khi tin Henri Rivière bị giết về đến Paris, Nghị-viện lập
tức bàn ngay việc phái viện-binh sang đánh An-nam và có
gửi bức điện sau này cho chức Thống-đốc Nam-kỳ : « Toàn-
https://thuviensach.vn
thể nghị-viện bỏ phiếu thuận xuất tiền ra để đánh lấy Bắc-kỳ.
Nước Pháp sẽ báo thù cho các thần tử ».
Ngày 10 tháng Bẩy, Challemel Lacour, Tổng-trưởng bộ
Ngoại-giao tuyên bố tại Hạ-nghị-viện : « Nếu chịu kiên nhẫn
một chút thì quân ta cũng có thể giữ được Hà-nội mà chờ
viện binh. Song vì quá can đảm nên quân ta không nhịn được
chiến tranh mà chủ-tướng bị hại ».
Kinh thành Huế đón cái chết của Henri Rivière một cách
khác hẳn.
Dân chúng và quan quân cùng vui mừng về cuộc thắng
trận ở Bắc-hà. Quân và dân cùng tưởng tượng như một trận
Cầu-giấy đã trừ cái ách cho nước Nam và sau khi đã giết
Henri Rivière thì người Pháp không bao giờ dám bén mảng
đến bờ cõi nước mình nữa.
Trong Triều, vua Tự-Đức tuy đang ngọa bệnh nhưng cũng
cố gượng ngự triều. Giữa sự hoan-hỉ của triều-đình. Binh-bộ
thượng-thư Trần Tiễn-Thành tỏ ra ý bất-bình. Thành phảnđối việc mở yến tiệc để khao cuộc thắng trận ở Bắc-kỳ, nói :
« Trận tuy thắng nhưng phỏng có ích gì. Giết Henri Rivière
mới là trừ được một người thù. Nhưng rồi đây sẽ có trăm
ngàn người Pháp khác thay cho Henri Rivière. Trận ô Cầugiấy không lợi gì hết mà chỉ hại cho việc giao thiệp của hai
nước sau này. Mai mốt quân Pháp lại kéo ra đánh lấy Hà-nội,
rồi dần dần, lấy cả thành Huế này nữa thì quân ta chống sao
được »…
Tôn-thất-Thuyết tức giận, chê Trần Tiễn-Thành là hèn
nhát. Ý Thuyết muốn đánh, đánh đến kỳ cùng. Nếu nước
https://thuviensach.vn
Pháp mang thêm quân sang đánh lấy Bắc-kỳ mà quân ta xét
không chống nổi thì xin quân cứu viện của Tàu.
Hai bên không đồng ý, cãi nhau kịch liệt.
Trần Tiễn-Thành : « Tôi là người Tàu, lẽ tự-nhiên là tôi
phải nói hay cho nước Tàu. Song cứ xét ở thực-sự thì quân
Pháp tuy ít nhưng tinh nhuệ, lại có khí giới chỉnh bị. Quân
Tàu và ta tuy đông nhưng không có thao luyện. Quân Tàu tôi
dám chắc rằng không thể thắng được quân Pháp ».
Tôn-thất-Thuyết không bàn nữa, phủi áo đứng dậy, nói :
« Ông là người Tàu mà ông khinh nước Tàu. Không biết
nhục ! ».
3
Trần Tiễn-Thành nguyên là giòng giõi người Tàu vì không
phục nhà Thanh và muốn mưu đồ khôi phục lại nhà Minh,
nên trốn sang Việt-nam. Trần Tiễn-Thành là người có thaolược nên được triều-đình Huế tin dùng. Hiện Trần đã được
phong đến chức Văn-minh-diện Đại-học-sĩ, lĩnh Binh-bộ
Thượng-thư. Xét quân mình, mỗi lần đánh là một lần bại,
Trần cho việc giao-chiến với nước Pháp là không thích thời
nên thường khuyên vua Tự-Đức nên giảng hòa. Nhưng, phần
vì quân địch vô cố gây sự, phần vì trong triều số đông chủ
chiến, nên vua Tự-Đức trước sau vẫn do dự, không dám
quyết là nên chiến hay nên hòa.
Nhà vua lại nhân lúc bệnh nguy nên việc nước đành chịu
bỏ cho mấy vị quyền thần. Hai đảng, chiến do Nguyễn-vănTường và Tôn-thất-Thuyết chủ trương và hòa, do Trần-tiễnThành đứng đầu, nhân sự suy nhược của nhà vua mà kéo vây
cánh, chia ra làm hai phái phản đối nhau.
https://thuviensach.vn
Phái muốn giảng hòa với Pháp, phái định đánh nhau đến
kỳ cùng. Hai phái hai chính-kiến. Vậy nếu nói chung cả đoàn
thể thì, triều-đình Huế cũng như vua Tự-đức trước khi lâm
chung không có chính kiến gì hết. Nước Việt-nam như con
thuyền trôi trên giòng nước chẩy mạnh, các thủy thủ vì tranh
nhau tay lái nên không biết lái về phương nào.
Giữa lúc bối rối đó, vua Tự-Đức thăng hà : 19 tháng Bẩy
1883.
https://thuviensach.vn
ĐÀN HẶC NGUYỄN-VĂN-TƯỜNG, PHANĐÌNH-PHÙNG BỊ TỐNG NGỤC
KHI lâm chung, vua Tự-Đức cho triệu Trần-tiễn-Thành,
Nguyễn-văn-Tường và Tôn-thất-Thuyết đến trước long sàng
để ký-thác Thụy-Quốc-Công Ưng-Chân là người theo ý muốn
của vua Tự-Đức, sau này được kế vị.
Nguyên vua Tự-Đức không có con, có nuôi ba người cháu
là Ưng-Chân tức Dục-Đức con trai Kiến-thụy Công Hồng-Y
(con thứ tư vua Thiệu-Trị) và Ưng-Kỵ tức Chánh Mông, ƯngĐăng tức Dưỡng Thiện là con Kiên-Thái Vương Hồng-Cái (con
út vua Thiệu-Trị).
Hồng-Y mất trước khi thành Huế thất thủ. Kiên-tháiVương thì chết một cách không ngờ vào năm 1875. Một buổi
sáng người nhà thấy Vương chết ở trong giường, cổ có một
vết thương và nằm cạnh một con dao cạo. Người ta nói Kiênthái-Vương có máu điên nên mấy hôm trước đi chơi thuyền
đã chực nhảy xuống sông. Song những lời đó, nhiều người
cho là không đúng và ngờ rằng Vương bị ám sát.
Sợ các quyền thần không tôn Thụy quốc-công theo như di
chúc, vua Tự-Đức lại muốn mượn oai-quyền của hai vị
Hoàng-thúc Thọ-xuân-Vương Mân-Định và Tuy-lý Quậnvương Mân-Trinh để kiềm-chế Nguyễn-văn-Tường và Tônthất-Thuyết.
Trong di chiếu, vua Tự-Đức nói : « Thọ-xuân-Vương MânĐịnh và Tuy-lý Quận-vương Mân-Trinh là những bậc lão
https://thuviensach.vn
thành có đức hạnh mà xưa nay trẫm vẫn kiến trọng. Sau này
hai khanh nên vì trẫm mà ngăn ngừa những việc quá lạm về
triều-chánh ».
Lời vua Tự-Đức có làm cho Thọ-xuân-Vương và Tuy-lý
Quận-vương được vị nể. Nhưng binh quyền và chánh quyền
đã về cả tay Tôn-thất-Thuyết và Nguyễn-văn-Tường. Hai vị
Hoàng-thân đành thúc thủ mà nhìn những hành-động
chuyên-chế của Thuyết và Tường. Không những thế, tính
mệnh hai người sau này lại còn gửi ở trong tay Tôn-thấtThuyết.
Thụy Quốc-công Dực-Đức lên ngôi. Trong di chiếu của
vua Tự-Đức đọc ở triều có câu : « Hoàng trưởng-tử
4
nay đã
5
khôn lớn, nhưng có tính dâm đãng nên chẳng được tốt . Tuy
vậy nước có vua lớn là phúc cho xã tắc, nếu bỏ biết lấy ai
thay ? »
Dục-Đức nghe mấy câu ấy, không bằng lòng, nói riêng
với ba vị phụ chánh, xin bỏ tám chữ, rồi hãy thông lục ra các
tỉnh. Thành không trả lời, Tường và Thuyết thì nhất định
không nghe. Dục-Đức tức giận, nói quả quyết rằng thế nào
cũng trả thù được mới nghe. Biết vậy, Tường, Thuyết mới
xướng lên việc phế, lập. Trần Tiễn-Thành bất-đắc-dĩ phải
theo. Rồi cả ba người cùng vào cung, xin Từ-Dụ Thái-hậu bỏ
Dục-Đức mà lập Lãng Quốc-công Hồng-Dật là con út vua
Thiệu-Trị (em vua Tự-Đức).
Tường, Thuyết khép Dục-Đức vào ba tội :
1. Đòi bỏ bớt lời di chiếu.
2. Đương có tang mà mặc áo sặc sỡ.
https://thuviensach.vn
3. Dâm đãng và thích ăn ngon.
Liền đó, Dục-Đức bị tống ngục !
Trước khi chết, ông đã trải qua một hồi cơ cực.
Theo lệnh Tôn-Thất Thuyết, giám ngục không cho ai được
mang thức ăn hoặc uống dâng vua. Nhưng may có vị quan
nhỏ thương tình chủ cũ, nhân một khe ngạch, ngày ngày đút
một nắm cơm vào cho Dục-Đức dùng. Muốn cho nhà vua khỏi
khát, vị quan ấy phải xấp nước một cái áo cũ đút vào khe
ngạch Dục-Đức vắt nước ở trong áo ấy ra mà uống. Nhờ ơn vị
quan kia, Dục-Đức sống thoi-thóp được ít ngày. Sau mưu cơ
bại lộ. Tôn-Thất Thuyết cho lấp khe lại.
Dục-Đức chết đói.
Đình thần phần nhiều bất bình về việc phế Dục-Đức,
nhưng không ai dám phản đối, sợ gây thù với bọn quyền
thần. Đô-sát-viện có quyền đàn hặc, nhưng trong 16 quan
Ngự-sử tại Đô-sát-viện thì vây cánh Tôn-Thất Thuyết có tới 6
người.
Tuy vậy, Đô-sát-viện cũng cử Phan-đình-Phùng trỉ-trích
Nguyễn-văn-Tường và Tôn-Thất Thuyết.
Có người báo trước, Tường cho quân mai phục sẵn. Khi
họp quần thần, Tường cứ lẳng lặng để cho Phan-đình-Phùng
phân trần. Nhưng Phan vừa nói dứt lời thì Tường liền ra hiệu.
Quân mai phục bốn phía đổ ra, trói Phan-đình-Phùng mà hạ
ngục.
Bảy hôm sau khi vua Hiệp-Hòa lên ngôi, Phan-đình-Phùng
mới được tha, nhưng bị lột hết chức tước.
https://thuviensach.vn
Phan người làng Đông-Thái phủ Đức-thọ tỉnh Hà-tĩnh, đỗ
Đình-nguyên đời hoàng-giáp Tự-Đức và làm quan đến chức
Ngự-sử.
Sau khi ra khỏi thành Huế, Phan liền lui về lập ấp ở Vũquang, giáp giới hai huyện Hương-sơn và Hương-khê (Hàtĩnh). Ông chiêu mộ hào-kiệt các nơi, phái người xuất dương
du-học và khởi quân cần vương chống nhau với quân Pháp dữ
dội trong mấy năm 1892-1895.
Phan giữ bốn tỉnh phía Bắc, tổ chức quân đội rất có trật
tự. Quân phục của quân Phan-đình-Phùng giống như quân
phục của lính khố xanh, dùng súng kiểu 1874 do Phan-đìnhPhùng chế lấy, nhưng khác súng của người Pháp có hai chỗ là
cò yếu và trong lòng súng không có khe nên đạn bắn không
được xa. Tuy vậy quân Phan cũng đã giết hại rất nhiều quan
quân đi đánh dẹp.
Về việc Phan-đình-Phùng, Đại-úy Gosselin viết : « Những
việc cũ lại lần lượt xẩy ra : quan đại-biểu của triều-đình Huế
bị bắt và bị giết, thành bị cướp, làng bị phá, cuộc khủng-bố
lan ra khắp vùng trong ba năm trời. Cuối năm 1895, cuộc
chống-chọi kém và không có vẻ thống nhất ; vì một cái dấu
hiệu bề ngoài rất tầm thường, người ta biết đích là Phanđình-Phùng đã chết về bệnh lỵ và lao-lực nhiều quá vì phải
lẩn-lút ở trong rừng để tránh quân Pháp luôn luôn tầm-nã.
Xác ông bị Nguyễn-Thân quật lên đưa về nguyên quán ở Hàtĩnh, ngay phía dưới dồn Linh-cảm. Tới nơi, quan quân thiết
thiêu-đàn rồi rội dầu hỏa vào đốt cho đến khi xương thịt cháy
hết mới nhặt tro mà rắc xuống sông. Các đồng-chí của ông,
người nào không chạy qua Lào mà trốn thoát sang Xiêm đều
https://thuviensach.vn
bị bắt giải về Huế xử-tử ».
https://thuviensach.vn
TÔN-THẤT THUYẾT, CON HÙM XÁM CỦA
TRIỀU-ĐÌNH HUẾ
THUYẾT là người thế nào mà đã gây được cuộc khủng-bố
tại triều-đình Huế, đã đóng vai Thủ-tướng độc-tài ở một thờiđại mà người ta còn hết sức tôn-trọng quân-quyền.
Tôn-Thất Thuyết, người trong hoàng-phái, sinh năm 1835
tại Huế. Xuất thân là võ-tướng, trải qua nhiều cuộc chinh
chiến, Tôn-Thất Thuyết lần lượt lên đến chức Phụ Chính đại
thần. Sau khi Trần Tiễn-Thành bị hành-thích, Thuyết kiêm cả
chức Binh-bộ Thượng-thư. Thế là binh quyền và chánh-quyền
của Nam-triều thu cả trong một tay Tôn-Thất-Thuyết.
Năm vua Tự-Đức băng-hà, Thuyết đã gần 50 tuổi, nhưng
coi còn rất tráng-kiện.
Theo lời thuật thì « Tôn-Thất Thuyết giỏi về võ nghệ, tính
hung hãn và ham hoạt-động ; người vạm vỡ, bụng hơi bệu,
đầu cạo trọc nên đội khăn khó. Người trong thời thường khen
Thuyết là không ưa những lối trang sức bề ngoài ».
Lời phê-bình ám hợp với những hành động của Thuyết khi
ra dẹp giặc ở Bắc-kỳ. Người ta thuật lại, khi ở Bắc-ninh, quân
Thuyết đóng ở phương nào thì phương ấy phải lặng như tha
ma.
Những tiếng động, không cứ là trống mõ hay giun dế đều
làm cho Thuyết tức giận. Cho nên quân Thuyết đi đến đâu thì
thôn dân lập tức phải đập chết gà, chó, hoặc mang đi gửi nơi
khác, chờ cho Thuyết đi khỏi rồi mới mang về, không thế, tất
https://thuviensach.vn
bị trọng tội.
Một hôm Thuyết ra chơi ngoài phố, chợt thấy một đứa bé
đang chửi mẹ, Thuyết đứng lại xem và hỏi tuổi đứa bé. Mẹ nó
thưa là nó lên 6 tuổi. Ngồi vào mâm cơm ăn, đứa bé vừa trở
đầu đũa thì bị Thuyết sai lính mang ra chém, cho rằng đứa
bé đã khôn (biết trở đầu đũa) mà còn chửi mẹ là bất hiếu !
Tại Huế, Thuyết giết không biết bao nhiêu mạng người.
Người ta nghiệm thấy rằng sáng nào Thuyết vui vẻ ra hầu thì
không xảy ra sự gì. Nhưng sáng nào, Thuyết ra ngồi côngđường mà mặt đã cằm cặm, ngồi khom khom có vẻ tức giận
thì hôm ấy ít nhất cũng có một người bị Thuyết chém.
Cái tính hiếu sát làm cho khắp đình thần phải sợ oai vũ
của Thuyết. Nhất là quyền của Tôn-Thất-Thuyết lại tăng lên
đến cực điểm, từ sau khi vua Tự-Đức thăng hà.
Một viên hành-tẩu bộ Binh tên là Chuyên tình cờ bị
Thuyết bắt được đang đọc một câu phong-dao nói xấu
Thuyết, lập tức bị Thuyết sai đao-phủ-thủ mang ra chém,
không ai dám xin mà dù ai xin cũng không được.
Nguyên thời bấy giờ có một câu phong-dao rất thịnhhành, mà ngày nay người Huế cũng chưa quên, là : « Nước
Nam có bốn gian-hùng : Tường gian, Viêm dối, Khiêm khùng,
Thuyết ngu
6
lại thêm hai thằng vũ phu : Đề Đức, Đề Soạn
dương mu chịu đòn ».
7
Trong sáu người bị kể ở câu phong-dao này thì Tôn-thất
Thuyết là người bị mạt xát hơn cả.
Người bấy giờ thường khinh lối võ đoán của Tôn-Thất
https://thuviensach.vn
Thuyết, cho Thuyết xuất thân ở nơi quân ngũ, không đủ trí
thức làm những việc có ý nghĩa như các quan văn.
Lời xét đoán đó theo ở sự ham chuộng khoa cử trong hồi
bấy giờ.
Nhưng nếu phán đoán cao lên một bậc nữa, thì cái bệnh
ham giết người của Thuyết tuy đáng trách, nhưng chánh sách
độc đoán của Thuyết cũng không nên vin vào sự thất bại mà
chê.
Mấy năm sau cùng, vua Tự-Đức đã mất hết nghị lực phấn
đấu. Triều thần thì kẻ chủ chiến, người chủ hòa, nhưng dù
chiến hay hòa, hai phái cũng chỉ vật nhau bằng lưỡi, chứ
không ai chịu hành động gì cả. Mấy ông vua kế vị vua TựĐức thì, đối với triều đình chưa có oai quyền, với thần dân
không đủ tín nhiệm. Vậy trong triều tất phải có một người có
định kiến. Người ấy là Tôn-Thất Thuyết. Mà muốn cho cái
định kiến kia có thể thực hành được thì thế tất phải trừ
những người không đồng ý với Thuyết.
Triều thần, người nào chủ hòa đều bị coi là thù chung của
nước Nam và thù riêng của Tôn-Thất Thuyết.
Không những Thuyết không để cho phái phản đối mang
cái tư tưởng hòa bình ra thực hành mà lại còn lấy uy vũ bưng
miệng mọi người, cấm không ai được phát biểu tư tưởng ấy.
Thuật việc về thời bấy giờ, một bạn đồng liêu với TônThất Thuyết là Huỳnh-Côn nói : « Chúng tôi sợ lối xử trí ấy
không biết nhường nào nên trăm miệng đều kín như bưng.
Các quan liêu nếu có bàn tán điều gì thì phải đóng kín cổng
và giữ cực kỳ bí-mật ».
https://thuviensach.vn
Tuy vậy, trong giới nào cũng có tai mắt của Tôn-Thất
Thuyết, vì vây cánh của Thuyết cực đông. Cho nên một vị
Án-sát là Tôn-thất Bá ở Bắc-kỳ vô Kinh chỉ nói có một câu : «
Sức người Pháp mười phần, ta chỉ có hai phần » cũng đến tai
Thuyết ngay. Cách mấy giờ sau Tôn-Thất Bá bị bắt, trói và
giam tại ngục Phù-thừa mãi đến khi người Pháp hạ thành Huế
(1885) mở cửa ngục Tôn-Thất Bá mới được ra khỏi.
Không chịu nổi cái không khí chuyên chế của Tôn-Thất
Thuyết, Trần-Tiễn Thành xin cáo về, triều-đình không thuận,
Trần phải từ chức Binh-bộ Thượng-thư, lui về Quốc-sử-quán.
Tôn-Thất Thuyết là một tử thù của nước Pháp. Nhưng
người Pháp đối với Thuyết chỉ có oán với trọng, mà không có
khinh.
Các sĩ quan Pháp dự việc hạ thành Huế hầu hết khen ngợi
lối tổ chức quân đội của Thuyết và nhận rằng quân An-nam
thua là vì khí-giới kém chứ không phải xếp đặt vụng.
Về việc làm của Tôn-Thất Thuyết, lại cũng những sĩ quan
ấy nói : « Những việc bạo-động mà Tôn-Thất Thuyết làm
nhiều khi thúc giục bởi tấm lòng chân thành yêu nước ».
Khi Tôn-Thất Thuyết chết ở Long-châu (1913), người Tàu
viếng ông đôi câu đối sau này : « Thù Nhung bất cộng đái
thiên, vạn cổ phương danh lưu Tượng-quận ; Hộ giá biệt tầm
tĩnh địa, thiên niên tàn cốt ký Long-châu ». Thù ngoài không
8
đội trời chung, muôn thuở tiếng thơm ghi Tượng-quận
;
Giúp chúa riêng tìm cõi thác, ngàn năm xương bạc gửi Longchâu.
9
https://thuviensach.vn
NGUYỄN VĂN-TƯỜNG
TRONG Việt-sử, cái tên thường đi liền với Tôn-Thất
Thuyết là Nguyễn Văn-Tường.
Tuy vậy, hai người chỉ liên lạc với nhau đến hết ngày
mồng 5 tháng bảy năm 1885. Sau khi người Pháp hạ thành
Huế thì Thuyết đưa vua Hàm-Nghi đi trốn, lo khôi phục lại cơđồ mà Tường thì chạy sang phía địch để cầu lấy cái phú-quý
mà thực ra Tường không được hưởng.
Nguyễn Văn-Tường, người xã An-xá-trung, tỉnh Quảngtrị, sinh năm 1820.
Sinh ở một nhà bình dân. Tường ham học, có nghị-lực,
năm 1852 đỗ cử nhân.
Được bổ làm Hành-tẩu bộ Hình (1854), rồi ra tri huyện
Quỳnh-lưu.
Năm 1857, Tường giữ chức tri-phủ Lương-giang. Hai năm
sau, trở về bộ Công rồi ra Án-sát Thanh-hóa.
Năm 1862, Tường lại quay về Huế làm biện lý bộ Công.
1863, cha chết, Tường về quê chịu tang. Tiếp lại mẹ chết,
nên mãi đến năm 1865, Tường mới lại quay vào làm Phủdoãn Thừa-thiên. Nhưng được một năm thì Tường có lỗi, bị
giáng chức.
Năm 1866, Tường bị cử ra làm chức Khâm-phái ở Quảngtrị ; 1873, Tường đột nhiên được thăng Hữu-tham-tri bộ Lễ,
cử vô Saigon, tiếp lại ra Bắc điều-đình với Ngoại-giao ủy-viên
Pháp Philastre để lấy lại mấy tỉnh Bắc-kỳ mà đại-úy Francis
https://thuviensach.vn
Garnier đã chiếm được.
Năm 1874, Tường được vua Tự-Đức cho toàn-quyền ký
hòa ước với nước Pháp. Nhân đấy, Tường được người Pháp
tặng Đệ-nhị-đẳng Bắc-Đẩu bội-tinh và vua Tự-Đức phong cho
tước Kỳ-vĩ bá và quyền chức Thượng-thư bộ Hộ, xung Cơ-mật
viện Đại-thần, kiêm cả việc giao-thiệp với nước Pháp cho đến
năm 1881.
Khi vua Tự-Đức băng hà, Tường được đứng đầu hàng
phụ-chánh.
Lần lượt leo đến bậc sau rốt trên bước thang sĩ-hoạn,
Tường tỏ ra là người có mưu-trí, nhẫn nhục và thức thời.
Khi thất thế, bị đuổi về Quảng-trị (1866), Tường làm
công việc của kẻ bị đày ải cũng kiên nhẫn như khi ngồi ghế
Phủ-doãn Thừa-thiên. Cho nên vua Tự-Đức thương mà phục
chức cho ở triều đình Huế.
Mười hai tháng phát lưu ở Quảng-trị giúp cho Tường xem
xét rành mạch nơi này. Khi vua Tự-Đức gia cho Tường xây
thành Tân-sở làm hậu thuẫn cho triều đình Huế phòng gặp sự
biến nguy Tường vẽ kiểu, rồi Tường lại đứng đốc công, không
nề gì khó nhọc.
Chỗ đáng trách hơn hết là Tường đã nhị tâm. Sau khi vua
Tự-Đức mất, người ta ngờ rằng Tường muốn nhờ sức ủng hộ
của quân Pháp mà lập con mình lên làm vua. Nhưng trong
triều còn có các vị hoàng thân có quyền thần và nhất là có
Tôn-Thất Thuyết nên Tường về cánh với Thuyết, cũng chủ
chiến như Thuyết, chủ đích mượn tay Thuyết để trừ những
người có thể làm trở ngại cho việc mình.
https://thuviensach.vn
Nguyễn Văn-Tường lại trở về nghề làm thuốc, đi lại trong
cung, được Từ Dụ Thái-hậu tin dùng. Quyền của Từ Dụ Tháihậu ở Huế không kém gì quyền Từ-Hi Thái-hậu, nhà Mãnthanh. Trong được lòng Thái-hậu, ngoài dựa vào thế lực TônThất Thuyết, Tường tự ý lập và bỏ vua. Tống ngục Dục-Đức,
giết vua Hiệp-Hòa, đày Tuy lý Vương, giết Trần Tiễn-Thành.
Mấy việc đều do Tôn-Thất Thuyết làm, nhưng chủ mưu ở
Nguyễn văn-Tường. Trong câu phong-dao « Tường gian,
Thuyết ngu » người đương thời muốn chỉ rằng Thuyết bị lợi
dụng mà không biết.
Cái thái độ mờ ám của Nguyễn văn-Tường đến khi thành
Huế thất thủ thì rõ rệt ra ngay. Tôn-Thất Thuyết bị thất bại,
đưa vua Hàm-Nghi đi trốn, Tường lẻn ra hàng. Nhưng cũng
chẳng giúp nổi được việc gì cho chủ mới, Tường bị Thống soái
De Courcy đày ra Côn-đảo với Phạm Thận-Duật và Tôn-Thất
Đính là cha Tôn-Thất Thuyết.
Sau Tường bị chuyển sang đày ở Tahiti, hằng năm Chánh
phủ trợ cấp 60.000 quan. Nhưng vừa tới Papeiti là một hải
cảng của Tahiti thì Tường chết.
Hài cốt được đưa về táng ở Quảng-trị.
https://thuviensach.vn
ĐÔ ĐỐC COURBET BẮN VÀO CỬA
THUẬN
DỤC-ĐỨC bị phế, Tường và Thuyết tôn Lãng Quốc-công
là con út vua Thiệu-Trị lên làm vua lấy hiệu là Hiệp-Hòa.
Triều thần không ai dám phản kháng gì hết. Phan đình-Phùng
bị tống ngục và làm thất-đảm tất cả mọi người. Quần thần
đành phải ngậm miệng đứng nghe Nguyễn trọng-Hiệp, Lại-bộ
thượng thư đọc tờ chiếu của Từ-Dụ thái-hậu lập vua mới.
Vua Hiệp-Hòa, một thi sĩ ưa cái thú ngâm hoa vịnh
nguyệt hơn là miếng đỉnh chung. Các triều thần phải đến tận
phủ riêng của ông ở Kim-long nài ép ông mới chịu về cung,
để gánh lấy một cái trách nhiệm mà tự ông cũng biết là nguy
ngập.
Việc Lưu Vĩnh-Phúc (Cờ-đen) giết thiếu tá Henri Rivière ở
Sơn-tây gây một mối thù giữa hai nước Pháp, Nam. Cuộc
chiến tranh mà Tôn Thất Thuyết cùng phái ông mong mỏi từ
trước đến giờ, tất phải có.
Chánh phủ Pháp quả quyết chinh-phục nước Nam.
Trong bài diễn văn đọc tại Hạ nghị-viện Pháp ngày 10
tháng Bẩy 1883 Challemel Lacour, Ngoại giao tổng trưởng :
« Trước kia cũng tưởng cử đặc biệt ủy viên sang để nhắc cho
vua Tự-Đức thi hành hiệp-ước 1874. Nhưng nay quân Cờ-đen
đã rõ rệt là quân vua Tự-Đức ; vua Tự-Đức là thù của nước
Pháp. Ủy viên ấy đã phải gọi về và nay phải giải quyết việc
Viễn-đông bằng chiến tranh. Sẽ có một người am hiểu xứ
https://thuviensach.vn
Bắc-kỳ đứng chỉ huy : Người ấy được cử làm Chánh-phủ ủyviên và đã tiếp các mệnh lệnh của Chánh phủ ! »
Người mà Lacour nói là Harmand. Ông này trước là y-sĩ
ngạch Hải-quân tới Bắc-kỳ lần đầu năm 1845 và đã đứng chỉ
huy đội quân hạ thành Nam-định.
Harmand được Chánh-phủ Pháp ủy cho toàn quyền đối
phó với nước Nam. Các võ quan đánh phá nơi nào phải bàn
trước với ông và phải do nơi ông mới giao thiệp được với
Chánh-phủ Pháp.
Ngày 16 tháng tám 1883, hải quân Pháp do thủy-sư Đôđốc Courbet chỉ huy tới Đà-nẵng (Tourane). Hải đội gồm có
hai thiết giáp hạm : Bayard và Atalante ; một vận tải :
Annamite ; hai tuần dương hạm : Drace, Chateau Renaud ;
hai pháo thuyền : Vipère và Lynx.
Harmand và De Champeaux đóng trên thiết giáp hạm
Bayard.
Khi hải-đội Pháp tới cửa Thuận, Courbet liền phái một sĩ
quan đáp thuyền nhỏ đưa tối-hậu-thư vào cho Chánh-phủ
Nam-triều, hẹn đến chiều 18 tháng tám nếu Triều-đình Huế
không chịu nộp cho quân Pháp các pháo đài (đồn) ở cửa
Thuận-an thì Đô-đốc khai chiến.
Lá thư cấp bách làm cho Triều-đình hoảng sợ. Phái chủ
hòa muốn nộp phắt ngay cửa Thuận cho quân Pháp để giữ
thế bình yên. Vua Hiệp-Hòa thì do dự. Nhưng Tôn-Thất
Thuyết nhận thư một cách thản-nhiên !
Ngay hôm đó, ông cùng với con trai là Tôn-Thất Đảm
https://thuviensach.vn
thân đốc thúc đại quân chở thêm súng khoa-sơn ra các đồn
hiện còn chưa chỉnh bị.
Tôn-Thất Thuyết vốn dự bị cuộc tranh đấu ở cửa Thuậnan đã lâu. Vì cửa biển này là cái ngõ của kinh thành Huế. Nếu
cửa Thuận mất thì địch quân có thể theo giòng sông Thuậnan mà áp và đến tận kinh thành.
Biết thế hiểm, trong mười năm liền Tôn-Thất Thuyết đã
cho xây pháo đài ở cửa bể và hai bên vệ sông. Những pháo
đài ấy có súng ống, có kho đạn và có một hàng đại bác dàn
mặt.
Pháo đài xây trên bãi cát, đứng ngoài biển nom vào, lồ lộ
như những trái núi con.
Trong khi quân Pháp dự bị hạ thành Thuận-an thì TônThất Thuyết cũng đã chờ sẵn để tiếp chiến.
Ngày 18 tháng Tám, hai bên cùng nóng lòng chờ cho
chóng tối và cùng tự tin rằng thắng sẽ về mình và cuộc chiến
tranh này sẽ giải quyết được vấn đề Việt-nam.
5 giờ rưỡi chiều, hạn phúc thư của triều đình Huế hết.
Một trái đạn đại bác đi theo với tiếng nổ từ ngoài biển
gieo mạnh vào đồn Hải đài. Tiếp đến, trái thứ hai, thứ ba.
Năm phút sau, tiếng đại bác liên thanh. Đạn như mưa rội
xuống Hải-đài, một cái thành kiên cố của Nam-triều ở phía
Bắc cửa Thuận-An bị bọc trong màn khói.
Đáp lại món quà của hải quân Pháp, quân Việt-nam từ
trên đồn dùng súng Khoa-sơn bắn đạn lớn về phía hai chiếc
thiết giáp hạm Bayard và Atalante. Mặt nước yên lặng của
https://thuviensach.vn
cửa Thuận-an phút chốc đã thành cái mồ chung cho mấy
ngàn chiến sĩ.
Cửa Thuận-an như một cái ngõ hẻm phía Bắc có đồn Hảiđài, phía nam có Hà-nhuận.
Phía trong đồn Hải-đài có một Ngự lâu. Chốn này bị cuộc
chiến tranh đổi thành pháo đài. Trước lầu Nam quân đặt một
giẫy 4 khẩu thần-công. Đội quân nhỏ ấy làm cho hải-quân
Pháp phải kinh ngạc, nó không chịu kém quân Pháp một viên
đạn nào ! Không những hai lần nó bắn trúng pháo thuyền
Vipère đỗ ở phía trong, mà lại còn bắn tràn ra thiết giáp hạm
Bayard đỗ ở ngoài khơi xa lắc.
Tiếp với Hải-đài, đồn Hà-nhuận của Nam quân cũng bắn
liên thanh. Chỗ yếu của quân Nam là súng của mình toàn
một hạng súng đồng bắn bằng đạn đặc và lắp vô đằng
miệng, sức đi yếu quá, phần nhiều rơi xuống bể.
Súng của hải-quân Pháp đúc theo kiểu mới (sau hồi
Pháp-Phổ chiến tranh) bắn có hiệu lực hơn, làm cho Namquân chết hại cực nhiều. Nhưng khuyết-điểm chẳng làm giảm
nhuệ-khí của Nam-quân. Một người lính này chết lập tức có
một người lính khác ra thay, xác nọ chồng lên xác kia, các
chiến sĩ như đã thề cùng nhau ở cửa Thuận.
Đêm 18, Nam-quân lại có thêm viện binh từ Huế kéo ra.
Suốt hai ngày 19 và 20, cuộc tranh đấu kịch-liệt một
cách không ngờ !
Nhưng đang đêm, quân Pháp xuất kỳ bất ý đánh chẹn
ngang đồn Hải-đài. Sau một loạt súng từ mặt bể đưa vào,
https://thuviensach.vn
Nam-quân chết gục cả xuống ngay miệng súng.
Sáng 21 tháng tám, hai pháo-thuyền Vipère và Lynx của
Pháp xông vào hải-khẩu đồn Hải-đài đã im tiếng súng. Nhưng
về phía nam, đồn Hà-nhuận vẫn bắn. Rồi các đồn Hạp-châu,
Cồn-sơn, Hi-dụ, Lộ-châu, Phổ-lợi cũng tiếp với đồn Hà-nhuận
mà bắn vào pháo thuyền của địch-quân.
Thế đã kém. Kho đạn trên đồn Hạp-châu lại bị nổ. Namquân núng.
Thừa thắng, Thủy-sư Đô-đốc Courbet ra lệnh bắn chặn
vào hai bên hải-khẩu, rồi kéo lên bộ. Những chông mà Namtriều cắm chìm trên bãi cát, trước tưởng có lợi, nhưng dưới đế
giầy của lính Pháp nó chẳng có hiệu lực gì.
Quân Pháp cướp luôn mấy đồn trên cửa Thuận-an.
Công xếp đặt của Nam-triều trong mười năm rút lại bị
Hải-quân Pháp phá vỡ trong ba buổi.
Trong bảy pháo-đài lớn giữ cửa Thuận-an có một đồn, khi
quân Pháp đến vẫn chưa xây xong.
Đồn ấy là Cồn-cỏ do một vị quan là Trần-tiếp-Thành đứng
đốc công phía tây đồn vẫn bỏ ngỏ để chịu đạn của quân
Pháp.
Việc phòng thủ cửa Thuận là một công cuộc lớn của Namtriều. Tổ chức việc che chở cho bờ cõi phía Đông, Nam-triều
đã chẳng ngại tốn của, tốn công. Nam-quân có vì khí giới
kém mà bị thất bại, nhưng cái khí hào-hùng còn phảng phất
ở cửa Thuận-an, trên bãi cát trắng đã chôn mấy ngàn tử-sĩ.
10
https://thuviensach.vn
MỘT HÒA ƯỚC KÝ TRÊN VŨNG MÁU
HẢI QUÂN Pháp đã chiếm được đồn Hải-đài, ở phía bắc
cửa Thuận. Những thành-trì kiên cố của đồn này và Ngự-lâu,
thốt thành ra những bức tường mạnh-mẽ để che-chở cho
11
địch quân. Chiếc cầu lớn của Chiêu-thương cục là một công
ty buôn của người Tầu ở cửa Thuận bị người Pháp dùng làm
cầu đổ bộ cho pháo binh. Binh-sĩ Pháp chỉ chịu khó đẩy mấy
ngàn xác chết của Nam-quân ở đồn và trụ-sở Chiêu-thươngcục ra là đủ có một đồn Hải-quân rộng rãi.
Phía nam, các đồn Hà-nhuận, Hạp-châu, Lộ-châu, Cồnsơn, Cồn-cỏ, Hi-dụ và Phổ-lợi vẫn cố chống. Nhưng những
tiếng súng lẻ tẻ bắn vào chỗ hư không như báo cho bên địch
biết rằng Nam quân đã vì sự nghèo khí-giới, nghèo đạn dược
mà nghèo luôn cả sự hăng hái hy-sinh cho bờ cõi.
Mấy giờ liền, các đồn ở cửa Thuận đồng thời dâng biểu về
triều xin viện binh. Nhưng kho tàng đã cạn, cũng như cái chí
phấn đấu của một nửa triều đình đã chết ngay từ khi chưa có
cuộc chiến tranh. Vua Hiệp-hòa thiết triều, các đình thần đều
chủ hòa. Ngay tối 21 tháng tám, Nam triều cử Lại-bộ thượngthư Nguyễn-trọng-Hợp ra cửa Thuận xin đình chiến.
Muốn cho điều đình được dễ dàng triều đình cử thêm cố
Gaspard (cố Kim Long) cùng đi với quan Lại-bộ thượng-thư.
Nguyễn-trọng-Hợp ra đến cửa Thuận thì trời đã tối xẫm.
Ông hạ lệnh cho các đồn Nam đình bắn. Nhưng ngoài biển, từ
các chiến hạm của quân ...
 





