BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI TÂN

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Screenshot_1309.png

    Lịch sử ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.Chào mừng quý vị đến với Website của Thư viện trường Tiểu học Hải Tân, thành phố Hải Phòng!
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Vua Hàm Nghi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Thu
    Ngày gửi: 20h:45' 26-07-2025
    Dung lượng: 596.0 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Tên sách : VUA HÀM NGHI
    Tác giả : PHAN TRẦN CHÚC
    Nhà xuất bản : CHINH-KÝ
    Năm xuất bản : 1951
    -----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
    Đánh máy : alegan, khibungto, alittleNu, baothong158qt,
    kayuya, Skellig, truongquang0500, lion8, Anh9902, fathao,
    Kiểm tra chính tả : Ngô Thanh Tùng, anfat3, Tào Thanh
    Huyền, Vũ Thị Xuân Hương, Trần Ngô Thế Nhân
    Biên tập ebook : Thư Võ
    Ngày hoàn thành : 18/11/2018

    https://thuviensach.vn

    Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận
    « SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG
    BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG
    Cảm ơn tác giả PHAN TRẦN CHÚC và nhà sách CHINHKÝ đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.

    https://thuviensach.vn

    MỤC LỤC
    CÁI OAI TÀN CỦA VUA TỰ-ĐỨC
    ĐÀN HẶC NGUYỄN-VĂN-TƯỜNG, PHAN-ĐÌNH-PHÙNG BỊ
    TỐNG NGỤC
    TÔN-THẤT THUYẾT, CON HÙM XÁM CỦA TRIỀU-ĐÌNH HUẾ
    NGUYỄN VĂN-TƯỜNG
    ĐÔ ĐỐC COURBET BẮN VÀO CỬA THUẬN
    MỘT HÒA ƯỚC KÝ TRÊN VŨNG MÁU
    VUA HIỆP-HÒA CHỌN MỘT TRONG BA CÁCH CHẾT
    TRẦN-TIỄN-THÀNH BỊ GIẾT, TUY-LÝ-VƯƠNG BỊ ĐẦY VÔ
    QUẢNG-NGÃI
    NGUYỄN-VĂN-TƯỜNG ĐỊNH XÉ HÒA-ƯỚC 25 THÁNG TÁM
    VUA HÀM-NGHI : QUÃNG ĐẦU CỦA MỘT CUỘC ĐỜI LUÂNLẠC
    HAI MƯƠI BA THÁNG NĂM KINH THÀNH THẤT THỦ
    CHẠY RA QUẢNG-TRỊ
    TRONG KHI VĨNH BIỆT
    ĐƯỜNG ĐI CÔN ĐẢO
    NGUYỄN HỮU ĐỘ
    BỎ TÂN-SỞ, THUYẾT ĐƯA VUA RA BẮC
    ĐẢNG VĂN THÂN
    BỊ CHẸN ĐƯỜNG ĐỘNG-HẢI VUA HÀM-NGHI LÁNH SANG LÀO
    THỐNG-SOÁI DE COURCY LẬP VUA ĐỒNG-KHÁNH
    QUA ĐÈO QUI-HỢP
    VUA HÀM-NGHI XUỐNG CHIẾU CẦN-VƯƠNG
    LÊ TRỰC DẤY QUÂN Ở THANH-THỦY
    ĐỘI QUÂN MƯỜNG CỦA TRƯƠNG QUANG-NGỌC

    https://thuviensach.vn

    PHAN ĐÌNH-PHÙNG VÀ ĐINH NHO-HẠNH KHỞI BINH Ở VỤ
    QUANG
    CUỘC SĂN NGƯỜI
    TẠI QUẢNG-BÌNH TƯỚNG PHÁP DỤ LÊ-TRỰC
    HAI LÁ THƯ CỦA QUAN NGUYÊN ĐỀ-ĐỐC HÀ-NỘI
    NGUYỄN-PHẠM TUÂN MẮC PHẢN
    CHÀNG THANH-NIÊN TRÊN SÔNG NAI
    VUA HÀM NGHI BỊ BẮT
    TÔN THẤT ĐẠM TUẪN TIẾT
    TRƯỚC KHI LÌA NƯỚC
    1889-1935

    https://thuviensach.vn

    PHAN TRẦN CHÚC

    VUA HÀM NGHI
    Nhà sách Chinh-Ký
    63B, Phố Sinh Từ – Hà-Nội
    XUẤT BẢN

    https://thuviensach.vn

    VUA HÀM NGHI của Phan-trần-Chúc do nhà sách
    Chinh-Ký xuất-bản, in lần thứ ba tại nhà in Vĩnh-Thịnh –
    Hanoi.

    https://thuviensach.vn

    CÁI OAI TÀN CỦA VUA TỰ-ĐỨC
    1882-1883 – Về hai năm cuối đời Tự-Đức, lá cờ của
    triều Nguyễn ủ rũ, vì đã trải qua mấy phen thất-bại ở chiến
    trường.
    Lốt chân người Pháp dẫm lên gần khắp cõi Đông-dương.
    Bức đồ Việt-nam thoạt tiên bị cắt đứt ba tỉnh Biên-hòa, Giađịnh, Định-tường (5 tháng Sáu 1862). Ngày 25 tháng Sáu
    1867, Nam-triều mất nốt ba tỉnh Vĩnh-long, Châu-đốc và Hàtiên. Thế là trọn xứ Nam-kỳ đã về tay người Pháp mà chỉ còn
    giữ lại có hai trăm mẫu ở hai xã Linh-chung và Tân-mỹ thuộc
    tỉnh Biên-hòa, làm của hương hỏa để tế họ Đỗ và họ Phạm là
    họ Từ-Dụ Thái-hậu, mẹ vua Tự-Đức.

    1

    Trung và Bắc-kỳ tuy vẫn còn là của nhà Nguyễn, nhưng
    theo điều thứ ba, hiệp ước ngày 15 tháng Ba 1874 « vua Annam không được phép ký thương-ước với bất cứ một nước
    nào mà không hợp với thương-ước Pháp-Nam và mỗi lần
    giao-thiệp với một ngoại-quốc phải trình trước đại-biểu
    Chánh-phủ Pháp ».
    Nước Nam dồn lại chỉ còn có hai xứ là Trung, Bắc-kỳ. Hai
    xứ ấy lại cũng không được độc-lập hoàn-toàn. Vì ngoại giao
    của nó đã phải đi theo đuôi ngoại giao nước Pháp.
    Trong một nước tạm yên : Những trận đánh ở Bắc-kỳ
    thoắt đổi làm cuộc giao-thiệp hòa-bình. Nhưng vua Tự-Đức
    không chịu nổi cái mầm bảo-hộ của người Âu, nên quay về
    lối ngoại-giao cổ của nước Nam. Ngày 25 tháng Chạp 1880,
    Nam-triều đệ các đồ tiến cống sang nhà Thanh và gây mối

    https://thuviensach.vn

    giao-thiệp cũ với Trung-hoa, có ý mượn sức người Tàu để trừ
    người Pháp.
    Việc làm của vua Tự-đức trái với hiệp-ước Pháp-Nam.
    Ngày 13 tháng Ba 1882, Le Myre de Vilers là Thống-đốc
    Nam-kỳ có gửi một bức thư ra trách vua Tự-Đức.
    Cuộc xung-đột này chưa giải quyết thì lại xẩy ra việc Le
    Myre de Vilers cử Thiếu-tá Henri Rivière ra Bắc để án ngữ
    thành Hà-nội.
    Le Myre de Vilers hẹn Thiếu-tá Henri Rivière không được
    động binh. Quân Pháp đóng ở tô giới, quân Nam giữ trong
    thành. Bản ý Le Myre de Vilers là cho Thiếu-tá Rivière ra thị
    uy ở Bắc-kỳ để giúp thanh thế cho Rheinart, ngoại giao ủyviên Pháp trong lúc điều đình với Nam-triều ở Huế.
    Nhưng Henri Rivière vốn chủ chiến nên khi viết thư về
    Sài-gòn, có câu : « Lớp này chúng ta phải cố đứng vững ở
    2

    Bắc-kỳ » . Rồi y bắn vào thành Hà-nội, rồi y cướp thành.
    Được tin, Nam-triều tức giận. Rheinart, vì thế mà hỏng việc,
    phải rời Huế vô Sài-gòn.
    Hai tháng sau, ngày 19 tháng Năm 1883 thì Henri Rivière
    bị quân cờ đen giết ở ô Cầu-giấy (Hà-nội).
    Sợi giây giao thiệp đứt.
    Ngọn lửa chiến tranh vừa tắt, nhân cơ hội này lại bùng
    lên.
    Khi tin Henri Rivière bị giết về đến Paris, Nghị-viện lập
    tức bàn ngay việc phái viện-binh sang đánh An-nam và có
    gửi bức điện sau này cho chức Thống-đốc Nam-kỳ : « Toàn-

    https://thuviensach.vn

    thể nghị-viện bỏ phiếu thuận xuất tiền ra để đánh lấy Bắc-kỳ.
    Nước Pháp sẽ báo thù cho các thần tử ».
    Ngày 10 tháng Bẩy, Challemel Lacour, Tổng-trưởng bộ
    Ngoại-giao tuyên bố tại Hạ-nghị-viện : « Nếu chịu kiên nhẫn
    một chút thì quân ta cũng có thể giữ được Hà-nội mà chờ
    viện binh. Song vì quá can đảm nên quân ta không nhịn được
    chiến tranh mà chủ-tướng bị hại ».
    Kinh thành Huế đón cái chết của Henri Rivière một cách
    khác hẳn.
    Dân chúng và quan quân cùng vui mừng về cuộc thắng
    trận ở Bắc-hà. Quân và dân cùng tưởng tượng như một trận
    Cầu-giấy đã trừ cái ách cho nước Nam và sau khi đã giết
    Henri Rivière thì người Pháp không bao giờ dám bén mảng
    đến bờ cõi nước mình nữa.
    Trong Triều, vua Tự-Đức tuy đang ngọa bệnh nhưng cũng
    cố gượng ngự triều. Giữa sự hoan-hỉ của triều-đình. Binh-bộ
    thượng-thư Trần Tiễn-Thành tỏ ra ý bất-bình. Thành phảnđối việc mở yến tiệc để khao cuộc thắng trận ở Bắc-kỳ, nói :
    « Trận tuy thắng nhưng phỏng có ích gì. Giết Henri Rivière
    mới là trừ được một người thù. Nhưng rồi đây sẽ có trăm
    ngàn người Pháp khác thay cho Henri Rivière. Trận ô Cầugiấy không lợi gì hết mà chỉ hại cho việc giao thiệp của hai
    nước sau này. Mai mốt quân Pháp lại kéo ra đánh lấy Hà-nội,
    rồi dần dần, lấy cả thành Huế này nữa thì quân ta chống sao
    được »…
    Tôn-thất-Thuyết tức giận, chê Trần Tiễn-Thành là hèn
    nhát. Ý Thuyết muốn đánh, đánh đến kỳ cùng. Nếu nước

    https://thuviensach.vn

    Pháp mang thêm quân sang đánh lấy Bắc-kỳ mà quân ta xét
    không chống nổi thì xin quân cứu viện của Tàu.
    Hai bên không đồng ý, cãi nhau kịch liệt.
    Trần Tiễn-Thành : « Tôi là người Tàu, lẽ tự-nhiên là tôi
    phải nói hay cho nước Tàu. Song cứ xét ở thực-sự thì quân
    Pháp tuy ít nhưng tinh nhuệ, lại có khí giới chỉnh bị. Quân
    Tàu và ta tuy đông nhưng không có thao luyện. Quân Tàu tôi
    dám chắc rằng không thể thắng được quân Pháp ».
    Tôn-thất-Thuyết không bàn nữa, phủi áo đứng dậy, nói :
    « Ông là người Tàu mà ông khinh nước Tàu. Không biết
    nhục ! ».

    3

    Trần Tiễn-Thành nguyên là giòng giõi người Tàu vì không
    phục nhà Thanh và muốn mưu đồ khôi phục lại nhà Minh,
    nên trốn sang Việt-nam. Trần Tiễn-Thành là người có thaolược nên được triều-đình Huế tin dùng. Hiện Trần đã được
    phong đến chức Văn-minh-diện Đại-học-sĩ, lĩnh Binh-bộ
    Thượng-thư. Xét quân mình, mỗi lần đánh là một lần bại,
    Trần cho việc giao-chiến với nước Pháp là không thích thời
    nên thường khuyên vua Tự-Đức nên giảng hòa. Nhưng, phần
    vì quân địch vô cố gây sự, phần vì trong triều số đông chủ
    chiến, nên vua Tự-Đức trước sau vẫn do dự, không dám
    quyết là nên chiến hay nên hòa.
    Nhà vua lại nhân lúc bệnh nguy nên việc nước đành chịu
    bỏ cho mấy vị quyền thần. Hai đảng, chiến do Nguyễn-vănTường và Tôn-thất-Thuyết chủ trương và hòa, do Trần-tiễnThành đứng đầu, nhân sự suy nhược của nhà vua mà kéo vây
    cánh, chia ra làm hai phái phản đối nhau.

    https://thuviensach.vn

    Phái muốn giảng hòa với Pháp, phái định đánh nhau đến
    kỳ cùng. Hai phái hai chính-kiến. Vậy nếu nói chung cả đoàn
    thể thì, triều-đình Huế cũng như vua Tự-đức trước khi lâm
    chung không có chính kiến gì hết. Nước Việt-nam như con
    thuyền trôi trên giòng nước chẩy mạnh, các thủy thủ vì tranh
    nhau tay lái nên không biết lái về phương nào.
    Giữa lúc bối rối đó, vua Tự-Đức thăng hà : 19 tháng Bẩy
    1883.

    https://thuviensach.vn

    ĐÀN HẶC NGUYỄN-VĂN-TƯỜNG, PHANĐÌNH-PHÙNG BỊ TỐNG NGỤC
    KHI lâm chung, vua Tự-Đức cho triệu Trần-tiễn-Thành,
    Nguyễn-văn-Tường và Tôn-thất-Thuyết đến trước long sàng
    để ký-thác Thụy-Quốc-Công Ưng-Chân là người theo ý muốn
    của vua Tự-Đức, sau này được kế vị.
    Nguyên vua Tự-Đức không có con, có nuôi ba người cháu
    là Ưng-Chân tức Dục-Đức con trai Kiến-thụy Công Hồng-Y
    (con thứ tư vua Thiệu-Trị) và Ưng-Kỵ tức Chánh Mông, ƯngĐăng tức Dưỡng Thiện là con Kiên-Thái Vương Hồng-Cái (con
    út vua Thiệu-Trị).
    Hồng-Y mất trước khi thành Huế thất thủ. Kiên-tháiVương thì chết một cách không ngờ vào năm 1875. Một buổi
    sáng người nhà thấy Vương chết ở trong giường, cổ có một
    vết thương và nằm cạnh một con dao cạo. Người ta nói Kiênthái-Vương có máu điên nên mấy hôm trước đi chơi thuyền
    đã chực nhảy xuống sông. Song những lời đó, nhiều người
    cho là không đúng và ngờ rằng Vương bị ám sát.
    Sợ các quyền thần không tôn Thụy quốc-công theo như di
    chúc, vua Tự-Đức lại muốn mượn oai-quyền của hai vị
    Hoàng-thúc Thọ-xuân-Vương Mân-Định và Tuy-lý Quậnvương Mân-Trinh để kiềm-chế Nguyễn-văn-Tường và Tônthất-Thuyết.
    Trong di chiếu, vua Tự-Đức nói : « Thọ-xuân-Vương MânĐịnh và Tuy-lý Quận-vương Mân-Trinh là những bậc lão

    https://thuviensach.vn

    thành có đức hạnh mà xưa nay trẫm vẫn kiến trọng. Sau này
    hai khanh nên vì trẫm mà ngăn ngừa những việc quá lạm về
    triều-chánh ».
    Lời vua Tự-Đức có làm cho Thọ-xuân-Vương và Tuy-lý
    Quận-vương được vị nể. Nhưng binh quyền và chánh quyền
    đã về cả tay Tôn-thất-Thuyết và Nguyễn-văn-Tường. Hai vị
    Hoàng-thân đành thúc thủ mà nhìn những hành-động
    chuyên-chế của Thuyết và Tường. Không những thế, tính
    mệnh hai người sau này lại còn gửi ở trong tay Tôn-thấtThuyết.
    Thụy Quốc-công Dực-Đức lên ngôi. Trong di chiếu của
    vua Tự-Đức đọc ở triều có câu : « Hoàng trưởng-tử

    4

    nay đã
    5

    khôn lớn, nhưng có tính dâm đãng nên chẳng được tốt . Tuy
    vậy nước có vua lớn là phúc cho xã tắc, nếu bỏ biết lấy ai
    thay ? »
    Dục-Đức nghe mấy câu ấy, không bằng lòng, nói riêng
    với ba vị phụ chánh, xin bỏ tám chữ, rồi hãy thông lục ra các
    tỉnh. Thành không trả lời, Tường và Thuyết thì nhất định
    không nghe. Dục-Đức tức giận, nói quả quyết rằng thế nào
    cũng trả thù được mới nghe. Biết vậy, Tường, Thuyết mới
    xướng lên việc phế, lập. Trần Tiễn-Thành bất-đắc-dĩ phải
    theo. Rồi cả ba người cùng vào cung, xin Từ-Dụ Thái-hậu bỏ
    Dục-Đức mà lập Lãng Quốc-công Hồng-Dật là con út vua
    Thiệu-Trị (em vua Tự-Đức).
    Tường, Thuyết khép Dục-Đức vào ba tội :
    1. Đòi bỏ bớt lời di chiếu.
    2. Đương có tang mà mặc áo sặc sỡ.

    https://thuviensach.vn

    3. Dâm đãng và thích ăn ngon.
    Liền đó, Dục-Đức bị tống ngục !
    Trước khi chết, ông đã trải qua một hồi cơ cực.
    Theo lệnh Tôn-Thất Thuyết, giám ngục không cho ai được
    mang thức ăn hoặc uống dâng vua. Nhưng may có vị quan
    nhỏ thương tình chủ cũ, nhân một khe ngạch, ngày ngày đút
    một nắm cơm vào cho Dục-Đức dùng. Muốn cho nhà vua khỏi
    khát, vị quan ấy phải xấp nước một cái áo cũ đút vào khe
    ngạch Dục-Đức vắt nước ở trong áo ấy ra mà uống. Nhờ ơn vị
    quan kia, Dục-Đức sống thoi-thóp được ít ngày. Sau mưu cơ
    bại lộ. Tôn-Thất Thuyết cho lấp khe lại.
    Dục-Đức chết đói.
    Đình thần phần nhiều bất bình về việc phế Dục-Đức,
    nhưng không ai dám phản đối, sợ gây thù với bọn quyền
    thần. Đô-sát-viện có quyền đàn hặc, nhưng trong 16 quan
    Ngự-sử tại Đô-sát-viện thì vây cánh Tôn-Thất Thuyết có tới 6
    người.
    Tuy vậy, Đô-sát-viện cũng cử Phan-đình-Phùng trỉ-trích
    Nguyễn-văn-Tường và Tôn-Thất Thuyết.
    Có người báo trước, Tường cho quân mai phục sẵn. Khi
    họp quần thần, Tường cứ lẳng lặng để cho Phan-đình-Phùng
    phân trần. Nhưng Phan vừa nói dứt lời thì Tường liền ra hiệu.
    Quân mai phục bốn phía đổ ra, trói Phan-đình-Phùng mà hạ
    ngục.
    Bảy hôm sau khi vua Hiệp-Hòa lên ngôi, Phan-đình-Phùng
    mới được tha, nhưng bị lột hết chức tước.

    https://thuviensach.vn

    Phan người làng Đông-Thái phủ Đức-thọ tỉnh Hà-tĩnh, đỗ
    Đình-nguyên đời hoàng-giáp Tự-Đức và làm quan đến chức
    Ngự-sử.
    Sau khi ra khỏi thành Huế, Phan liền lui về lập ấp ở Vũquang, giáp giới hai huyện Hương-sơn và Hương-khê (Hàtĩnh). Ông chiêu mộ hào-kiệt các nơi, phái người xuất dương
    du-học và khởi quân cần vương chống nhau với quân Pháp dữ
    dội trong mấy năm 1892-1895.
    Phan giữ bốn tỉnh phía Bắc, tổ chức quân đội rất có trật
    tự. Quân phục của quân Phan-đình-Phùng giống như quân
    phục của lính khố xanh, dùng súng kiểu 1874 do Phan-đìnhPhùng chế lấy, nhưng khác súng của người Pháp có hai chỗ là
    cò yếu và trong lòng súng không có khe nên đạn bắn không
    được xa. Tuy vậy quân Phan cũng đã giết hại rất nhiều quan
    quân đi đánh dẹp.
    Về việc Phan-đình-Phùng, Đại-úy Gosselin viết : « Những
    việc cũ lại lần lượt xẩy ra : quan đại-biểu của triều-đình Huế
    bị bắt và bị giết, thành bị cướp, làng bị phá, cuộc khủng-bố
    lan ra khắp vùng trong ba năm trời. Cuối năm 1895, cuộc
    chống-chọi kém và không có vẻ thống nhất ; vì một cái dấu
    hiệu bề ngoài rất tầm thường, người ta biết đích là Phanđình-Phùng đã chết về bệnh lỵ và lao-lực nhiều quá vì phải
    lẩn-lút ở trong rừng để tránh quân Pháp luôn luôn tầm-nã.
    Xác ông bị Nguyễn-Thân quật lên đưa về nguyên quán ở Hàtĩnh, ngay phía dưới dồn Linh-cảm. Tới nơi, quan quân thiết
    thiêu-đàn rồi rội dầu hỏa vào đốt cho đến khi xương thịt cháy
    hết mới nhặt tro mà rắc xuống sông. Các đồng-chí của ông,
    người nào không chạy qua Lào mà trốn thoát sang Xiêm đều

    https://thuviensach.vn

    bị bắt giải về Huế xử-tử ».

    https://thuviensach.vn

    TÔN-THẤT THUYẾT, CON HÙM XÁM CỦA
    TRIỀU-ĐÌNH HUẾ
    THUYẾT là người thế nào mà đã gây được cuộc khủng-bố
    tại triều-đình Huế, đã đóng vai Thủ-tướng độc-tài ở một thờiđại mà người ta còn hết sức tôn-trọng quân-quyền.
    Tôn-Thất Thuyết, người trong hoàng-phái, sinh năm 1835
    tại Huế. Xuất thân là võ-tướng, trải qua nhiều cuộc chinh
    chiến, Tôn-Thất Thuyết lần lượt lên đến chức Phụ Chính đại
    thần. Sau khi Trần Tiễn-Thành bị hành-thích, Thuyết kiêm cả
    chức Binh-bộ Thượng-thư. Thế là binh quyền và chánh-quyền
    của Nam-triều thu cả trong một tay Tôn-Thất-Thuyết.
    Năm vua Tự-Đức băng-hà, Thuyết đã gần 50 tuổi, nhưng
    coi còn rất tráng-kiện.
    Theo lời thuật thì « Tôn-Thất Thuyết giỏi về võ nghệ, tính
    hung hãn và ham hoạt-động ; người vạm vỡ, bụng hơi bệu,
    đầu cạo trọc nên đội khăn khó. Người trong thời thường khen
    Thuyết là không ưa những lối trang sức bề ngoài ».
    Lời phê-bình ám hợp với những hành động của Thuyết khi
    ra dẹp giặc ở Bắc-kỳ. Người ta thuật lại, khi ở Bắc-ninh, quân
    Thuyết đóng ở phương nào thì phương ấy phải lặng như tha
    ma.
    Những tiếng động, không cứ là trống mõ hay giun dế đều
    làm cho Thuyết tức giận. Cho nên quân Thuyết đi đến đâu thì
    thôn dân lập tức phải đập chết gà, chó, hoặc mang đi gửi nơi
    khác, chờ cho Thuyết đi khỏi rồi mới mang về, không thế, tất

    https://thuviensach.vn

    bị trọng tội.
    Một hôm Thuyết ra chơi ngoài phố, chợt thấy một đứa bé
    đang chửi mẹ, Thuyết đứng lại xem và hỏi tuổi đứa bé. Mẹ nó
    thưa là nó lên 6 tuổi. Ngồi vào mâm cơm ăn, đứa bé vừa trở
    đầu đũa thì bị Thuyết sai lính mang ra chém, cho rằng đứa
    bé đã khôn (biết trở đầu đũa) mà còn chửi mẹ là bất hiếu !
    Tại Huế, Thuyết giết không biết bao nhiêu mạng người.
    Người ta nghiệm thấy rằng sáng nào Thuyết vui vẻ ra hầu thì
    không xảy ra sự gì. Nhưng sáng nào, Thuyết ra ngồi côngđường mà mặt đã cằm cặm, ngồi khom khom có vẻ tức giận
    thì hôm ấy ít nhất cũng có một người bị Thuyết chém.
    Cái tính hiếu sát làm cho khắp đình thần phải sợ oai vũ
    của Thuyết. Nhất là quyền của Tôn-Thất-Thuyết lại tăng lên
    đến cực điểm, từ sau khi vua Tự-Đức thăng hà.
    Một viên hành-tẩu bộ Binh tên là Chuyên tình cờ bị
    Thuyết bắt được đang đọc một câu phong-dao nói xấu
    Thuyết, lập tức bị Thuyết sai đao-phủ-thủ mang ra chém,
    không ai dám xin mà dù ai xin cũng không được.
    Nguyên thời bấy giờ có một câu phong-dao rất thịnhhành, mà ngày nay người Huế cũng chưa quên, là : « Nước
    Nam có bốn gian-hùng : Tường gian, Viêm dối, Khiêm khùng,
    Thuyết ngu

    6

    lại thêm hai thằng vũ phu : Đề Đức, Đề Soạn

    dương mu chịu đòn ».

    7

    Trong sáu người bị kể ở câu phong-dao này thì Tôn-thất
    Thuyết là người bị mạt xát hơn cả.
    Người bấy giờ thường khinh lối võ đoán của Tôn-Thất

    https://thuviensach.vn

    Thuyết, cho Thuyết xuất thân ở nơi quân ngũ, không đủ trí
    thức làm những việc có ý nghĩa như các quan văn.
    Lời xét đoán đó theo ở sự ham chuộng khoa cử trong hồi
    bấy giờ.
    Nhưng nếu phán đoán cao lên một bậc nữa, thì cái bệnh
    ham giết người của Thuyết tuy đáng trách, nhưng chánh sách
    độc đoán của Thuyết cũng không nên vin vào sự thất bại mà
    chê.
    Mấy năm sau cùng, vua Tự-Đức đã mất hết nghị lực phấn
    đấu. Triều thần thì kẻ chủ chiến, người chủ hòa, nhưng dù
    chiến hay hòa, hai phái cũng chỉ vật nhau bằng lưỡi, chứ
    không ai chịu hành động gì cả. Mấy ông vua kế vị vua TựĐức thì, đối với triều đình chưa có oai quyền, với thần dân
    không đủ tín nhiệm. Vậy trong triều tất phải có một người có
    định kiến. Người ấy là Tôn-Thất Thuyết. Mà muốn cho cái
    định kiến kia có thể thực hành được thì thế tất phải trừ
    những người không đồng ý với Thuyết.
    Triều thần, người nào chủ hòa đều bị coi là thù chung của
    nước Nam và thù riêng của Tôn-Thất Thuyết.
    Không những Thuyết không để cho phái phản đối mang
    cái tư tưởng hòa bình ra thực hành mà lại còn lấy uy vũ bưng
    miệng mọi người, cấm không ai được phát biểu tư tưởng ấy.
    Thuật việc về thời bấy giờ, một bạn đồng liêu với TônThất Thuyết là Huỳnh-Côn nói : « Chúng tôi sợ lối xử trí ấy
    không biết nhường nào nên trăm miệng đều kín như bưng.
    Các quan liêu nếu có bàn tán điều gì thì phải đóng kín cổng
    và giữ cực kỳ bí-mật ».

    https://thuviensach.vn

    Tuy vậy, trong giới nào cũng có tai mắt của Tôn-Thất
    Thuyết, vì vây cánh của Thuyết cực đông. Cho nên một vị
    Án-sát là Tôn-thất Bá ở Bắc-kỳ vô Kinh chỉ nói có một câu : «
    Sức người Pháp mười phần, ta chỉ có hai phần » cũng đến tai
    Thuyết ngay. Cách mấy giờ sau Tôn-Thất Bá bị bắt, trói và
    giam tại ngục Phù-thừa mãi đến khi người Pháp hạ thành Huế
    (1885) mở cửa ngục Tôn-Thất Bá mới được ra khỏi.
    Không chịu nổi cái không khí chuyên chế của Tôn-Thất
    Thuyết, Trần-Tiễn Thành xin cáo về, triều-đình không thuận,
    Trần phải từ chức Binh-bộ Thượng-thư, lui về Quốc-sử-quán.
    Tôn-Thất Thuyết là một tử thù của nước Pháp. Nhưng
    người Pháp đối với Thuyết chỉ có oán với trọng, mà không có
    khinh.
    Các sĩ quan Pháp dự việc hạ thành Huế hầu hết khen ngợi
    lối tổ chức quân đội của Thuyết và nhận rằng quân An-nam
    thua là vì khí-giới kém chứ không phải xếp đặt vụng.
    Về việc làm của Tôn-Thất Thuyết, lại cũng những sĩ quan
    ấy nói : « Những việc bạo-động mà Tôn-Thất Thuyết làm
    nhiều khi thúc giục bởi tấm lòng chân thành yêu nước ».
    Khi Tôn-Thất Thuyết chết ở Long-châu (1913), người Tàu
    viếng ông đôi câu đối sau này : « Thù Nhung bất cộng đái
    thiên, vạn cổ phương danh lưu Tượng-quận ; Hộ giá biệt tầm
    tĩnh địa, thiên niên tàn cốt ký Long-châu ». Thù ngoài không
    8

    đội trời chung, muôn thuở tiếng thơm ghi Tượng-quận
    ;
    Giúp chúa riêng tìm cõi thác, ngàn năm xương bạc gửi Longchâu.

    9

    https://thuviensach.vn

    NGUYỄN VĂN-TƯỜNG
    TRONG Việt-sử, cái tên thường đi liền với Tôn-Thất
    Thuyết là Nguyễn Văn-Tường.
    Tuy vậy, hai người chỉ liên lạc với nhau đến hết ngày
    mồng 5 tháng bảy năm 1885. Sau khi người Pháp hạ thành
    Huế thì Thuyết đưa vua Hàm-Nghi đi trốn, lo khôi phục lại cơđồ mà Tường thì chạy sang phía địch để cầu lấy cái phú-quý
    mà thực ra Tường không được hưởng.
    Nguyễn Văn-Tường, người xã An-xá-trung, tỉnh Quảngtrị, sinh năm 1820.
    Sinh ở một nhà bình dân. Tường ham học, có nghị-lực,
    năm 1852 đỗ cử nhân.
    Được bổ làm Hành-tẩu bộ Hình (1854), rồi ra tri huyện
    Quỳnh-lưu.
    Năm 1857, Tường giữ chức tri-phủ Lương-giang. Hai năm
    sau, trở về bộ Công rồi ra Án-sát Thanh-hóa.
    Năm 1862, Tường lại quay về Huế làm biện lý bộ Công.
    1863, cha chết, Tường về quê chịu tang. Tiếp lại mẹ chết,
    nên mãi đến năm 1865, Tường mới lại quay vào làm Phủdoãn Thừa-thiên. Nhưng được một năm thì Tường có lỗi, bị
    giáng chức.
    Năm 1866, Tường bị cử ra làm chức Khâm-phái ở Quảngtrị ; 1873, Tường đột nhiên được thăng Hữu-tham-tri bộ Lễ,
    cử vô Saigon, tiếp lại ra Bắc điều-đình với Ngoại-giao ủy-viên
    Pháp Philastre để lấy lại mấy tỉnh Bắc-kỳ mà đại-úy Francis

    https://thuviensach.vn

    Garnier đã chiếm được.
    Năm 1874, Tường được vua Tự-Đức cho toàn-quyền ký
    hòa ước với nước Pháp. Nhân đấy, Tường được người Pháp
    tặng Đệ-nhị-đẳng Bắc-Đẩu bội-tinh và vua Tự-Đức phong cho
    tước Kỳ-vĩ bá và quyền chức Thượng-thư bộ Hộ, xung Cơ-mật
    viện Đại-thần, kiêm cả việc giao-thiệp với nước Pháp cho đến
    năm 1881.
    Khi vua Tự-Đức băng hà, Tường được đứng đầu hàng
    phụ-chánh.
    Lần lượt leo đến bậc sau rốt trên bước thang sĩ-hoạn,
    Tường tỏ ra là người có mưu-trí, nhẫn nhục và thức thời.
    Khi thất thế, bị đuổi về Quảng-trị (1866), Tường làm
    công việc của kẻ bị đày ải cũng kiên nhẫn như khi ngồi ghế
    Phủ-doãn Thừa-thiên. Cho nên vua Tự-Đức thương mà phục
    chức cho ở triều đình Huế.
    Mười hai tháng phát lưu ở Quảng-trị giúp cho Tường xem
    xét rành mạch nơi này. Khi vua Tự-Đức gia cho Tường xây
    thành Tân-sở làm hậu thuẫn cho triều đình Huế phòng gặp sự
    biến nguy Tường vẽ kiểu, rồi Tường lại đứng đốc công, không
    nề gì khó nhọc.
    Chỗ đáng trách hơn hết là Tường đã nhị tâm. Sau khi vua
    Tự-Đức mất, người ta ngờ rằng Tường muốn nhờ sức ủng hộ
    của quân Pháp mà lập con mình lên làm vua. Nhưng trong
    triều còn có các vị hoàng thân có quyền thần và nhất là có
    Tôn-Thất Thuyết nên Tường về cánh với Thuyết, cũng chủ
    chiến như Thuyết, chủ đích mượn tay Thuyết để trừ những
    người có thể làm trở ngại cho việc mình.

    https://thuviensach.vn

    Nguyễn Văn-Tường lại trở về nghề làm thuốc, đi lại trong
    cung, được Từ Dụ Thái-hậu tin dùng. Quyền của Từ Dụ Tháihậu ở Huế không kém gì quyền Từ-Hi Thái-hậu, nhà Mãnthanh. Trong được lòng Thái-hậu, ngoài dựa vào thế lực TônThất Thuyết, Tường tự ý lập và bỏ vua. Tống ngục Dục-Đức,
    giết vua Hiệp-Hòa, đày Tuy lý Vương, giết Trần Tiễn-Thành.
    Mấy việc đều do Tôn-Thất Thuyết làm, nhưng chủ mưu ở
    Nguyễn văn-Tường. Trong câu phong-dao « Tường gian,
    Thuyết ngu » người đương thời muốn chỉ rằng Thuyết bị lợi
    dụng mà không biết.
    Cái thái độ mờ ám của Nguyễn văn-Tường đến khi thành
    Huế thất thủ thì rõ rệt ra ngay. Tôn-Thất Thuyết bị thất bại,
    đưa vua Hàm-Nghi đi trốn, Tường lẻn ra hàng. Nhưng cũng
    chẳng giúp nổi được việc gì cho chủ mới, Tường bị Thống soái
    De Courcy đày ra Côn-đảo với Phạm Thận-Duật và Tôn-Thất
    Đính là cha Tôn-Thất Thuyết.
    Sau Tường bị chuyển sang đày ở Tahiti, hằng năm Chánh
    phủ trợ cấp 60.000 quan. Nhưng vừa tới Papeiti là một hải
    cảng của Tahiti thì Tường chết.
    Hài cốt được đưa về táng ở Quảng-trị.

    https://thuviensach.vn

    ĐÔ ĐỐC COURBET BẮN VÀO CỬA
    THUẬN
    DỤC-ĐỨC bị phế, Tường và Thuyết tôn Lãng Quốc-công
    là con út vua Thiệu-Trị lên làm vua lấy hiệu là Hiệp-Hòa.
    Triều thần không ai dám phản kháng gì hết. Phan đình-Phùng
    bị tống ngục và làm thất-đảm tất cả mọi người. Quần thần
    đành phải ngậm miệng đứng nghe Nguyễn trọng-Hiệp, Lại-bộ
    thượng thư đọc tờ chiếu của Từ-Dụ thái-hậu lập vua mới.
    Vua Hiệp-Hòa, một thi sĩ ưa cái thú ngâm hoa vịnh
    nguyệt hơn là miếng đỉnh chung. Các triều thần phải đến tận
    phủ riêng của ông ở Kim-long nài ép ông mới chịu về cung,
    để gánh lấy một cái trách nhiệm mà tự ông cũng biết là nguy
    ngập.
    Việc Lưu Vĩnh-Phúc (Cờ-đen) giết thiếu tá Henri Rivière ở
    Sơn-tây gây một mối thù giữa hai nước Pháp, Nam. Cuộc
    chiến tranh mà Tôn Thất Thuyết cùng phái ông mong mỏi từ
    trước đến giờ, tất phải có.
    Chánh phủ Pháp quả quyết chinh-phục nước Nam.
    Trong bài diễn văn đọc tại Hạ nghị-viện Pháp ngày 10
    tháng Bẩy 1883 Challemel Lacour, Ngoại giao tổng trưởng :
    « Trước kia cũng tưởng cử đặc biệt ủy viên sang để nhắc cho
    vua Tự-Đức thi hành hiệp-ước 1874. Nhưng nay quân Cờ-đen
    đã rõ rệt là quân vua Tự-Đức ; vua Tự-Đức là thù của nước
    Pháp. Ủy viên ấy đã phải gọi về và nay phải giải quyết việc
    Viễn-đông bằng chiến tranh. Sẽ có một người am hiểu xứ

    https://thuviensach.vn

    Bắc-kỳ đứng chỉ huy : Người ấy được cử làm Chánh-phủ ủyviên và đã tiếp các mệnh lệnh của Chánh phủ ! »
    Người mà Lacour nói là Harmand. Ông này trước là y-sĩ
    ngạch Hải-quân tới Bắc-kỳ lần đầu năm 1845 và đã đứng chỉ
    huy đội quân hạ thành Nam-định.
    Harmand được Chánh-phủ Pháp ủy cho toàn quyền đối
    phó với nước Nam. Các võ quan đánh phá nơi nào phải bàn
    trước với ông và phải do nơi ông mới giao thiệp được với
    Chánh-phủ Pháp.
    Ngày 16 tháng tám 1883, hải quân Pháp do thủy-sư Đôđốc Courbet chỉ huy tới Đà-nẵng (Tourane). Hải đội gồm có
    hai thiết giáp hạm : Bayard và Atalante ; một vận tải :
    Annamite ; hai tuần dương hạm : Drace, Chateau Renaud ;
    hai pháo thuyền : Vipère và Lynx.
    Harmand và De Champeaux đóng trên thiết giáp hạm
    Bayard.
    Khi hải-đội Pháp tới cửa Thuận, Courbet liền phái một sĩ
    quan đáp thuyền nhỏ đưa tối-hậu-thư vào cho Chánh-phủ
    Nam-triều, hẹn đến chiều 18 tháng tám nếu Triều-đình Huế
    không chịu nộp cho quân Pháp các pháo đài (đồn) ở cửa
    Thuận-an thì Đô-đốc khai chiến.
    Lá thư cấp bách làm cho Triều-đình hoảng sợ. Phái chủ
    hòa muốn nộp phắt ngay cửa Thuận cho quân Pháp để giữ
    thế bình yên. Vua Hiệp-Hòa thì do dự. Nhưng Tôn-Thất
    Thuyết nhận thư một cách thản-nhiên !
    Ngay hôm đó, ông cùng với con trai là Tôn-Thất Đảm

    https://thuviensach.vn

    thân đốc thúc đại quân chở thêm súng khoa-sơn ra các đồn
    hiện còn chưa chỉnh bị.
    Tôn-Thất Thuyết vốn dự bị cuộc tranh đấu ở cửa Thuậnan đã lâu. Vì cửa biển này là cái ngõ của kinh thành Huế. Nếu
    cửa Thuận mất thì địch quân có thể theo giòng sông Thuậnan mà áp và đến tận kinh thành.
    Biết thế hiểm, trong mười năm liền Tôn-Thất Thuyết đã
    cho xây pháo đài ở cửa bể và hai bên vệ sông. Những pháo
    đài ấy có súng ống, có kho đạn và có một hàng đại bác dàn
    mặt.
    Pháo đài xây trên bãi cát, đứng ngoài biển nom vào, lồ lộ
    như những trái núi con.
    Trong khi quân Pháp dự bị hạ thành Thuận-an thì TônThất Thuyết cũng đã chờ sẵn để tiếp chiến.
    Ngày 18 tháng Tám, hai bên cùng nóng lòng chờ cho
    chóng tối và cùng tự tin rằng thắng sẽ về mình và cuộc chiến
    tranh này sẽ giải quyết được vấn đề Việt-nam.
    5 giờ rưỡi chiều, hạn phúc thư của triều đình Huế hết.
    Một trái đạn đại bác đi theo với tiếng nổ từ ngoài biển
    gieo mạnh vào đồn Hải đài. Tiếp đến, trái thứ hai, thứ ba.
    Năm phút sau, tiếng đại bác liên thanh. Đạn như mưa rội
    xuống Hải-đài, một cái thành kiên cố của Nam-triều ở phía
    Bắc cửa Thuận-An bị bọc trong màn khói.
    Đáp lại món quà của hải quân Pháp, quân Việt-nam từ
    trên đồn dùng súng Khoa-sơn bắn đạn lớn về phía hai chiếc
    thiết giáp hạm Bayard và Atalante. Mặt nước yên lặng của

    https://thuviensach.vn

    cửa Thuận-an phút chốc đã thành cái mồ chung cho mấy
    ngàn chiến sĩ.
    Cửa Thuận-an như một cái ngõ hẻm phía Bắc có đồn Hảiđài, phía nam có Hà-nhuận.
    Phía trong đồn Hải-đài có một Ngự lâu. Chốn này bị cuộc
    chiến tranh đổi thành pháo đài. Trước lầu Nam quân đặt một
    giẫy 4 khẩu thần-công. Đội quân nhỏ ấy làm cho hải-quân
    Pháp phải kinh ngạc, nó không chịu kém quân Pháp một viên
    đạn nào ! Không những hai lần nó bắn trúng pháo thuyền
    Vipère đỗ ở phía trong, mà lại còn bắn tràn ra thiết giáp hạm
    Bayard đỗ ở ngoài khơi xa lắc.
    Tiếp với Hải-đài, đồn Hà-nhuận của Nam quân cũng bắn
    liên thanh. Chỗ yếu của quân Nam là súng của mình toàn
    một hạng súng đồng bắn bằng đạn đặc và lắp vô đằng
    miệng, sức đi yếu quá, phần nhiều rơi xuống bể.
    Súng của hải-quân Pháp đúc theo kiểu mới (sau hồi
    Pháp-Phổ chiến tranh) bắn có hiệu lực hơn, làm cho Namquân chết hại cực nhiều. Nhưng khuyết-điểm chẳng làm giảm
    nhuệ-khí của Nam-quân. Một người lính này chết lập tức có
    một người lính khác ra thay, xác nọ chồng lên xác kia, các
    chiến sĩ như đã thề cùng nhau ở cửa Thuận.
    Đêm 18, Nam-quân lại có thêm viện binh từ Huế kéo ra.
    Suốt hai ngày 19 và 20, cuộc tranh đấu kịch-liệt một
    cách không ngờ !
    Nhưng đang đêm, quân Pháp xuất kỳ bất ý đánh chẹn
    ngang đồn Hải-đài. Sau một loạt súng từ mặt bể đưa vào,

    https://thuviensach.vn

    Nam-quân chết gục cả xuống ngay miệng súng.
    Sáng 21 tháng tám, hai pháo-thuyền Vipère và Lynx của
    Pháp xông vào hải-khẩu đồn Hải-đài đã im tiếng súng. Nhưng
    về phía nam, đồn Hà-nhuận vẫn bắn. Rồi các đồn Hạp-châu,
    Cồn-sơn, Hi-dụ, Lộ-châu, Phổ-lợi cũng tiếp với đồn Hà-nhuận
    mà bắn vào pháo thuyền của địch-quân.
    Thế đã kém. Kho đạn trên đồn Hạp-châu lại bị nổ. Namquân núng.
    Thừa thắng, Thủy-sư Đô-đốc Courbet ra lệnh bắn chặn
    vào hai bên hải-khẩu, rồi kéo lên bộ. Những chông mà Namtriều cắm chìm trên bãi cát, trước tưởng có lợi, nhưng dưới đế
    giầy của lính Pháp nó chẳng có hiệu lực gì.
    Quân Pháp cướp luôn mấy đồn trên cửa Thuận-an.
    Công xếp đặt của Nam-triều trong mười năm rút lại bị
    Hải-quân Pháp phá vỡ trong ba buổi.
    Trong bảy pháo-đài lớn giữ cửa Thuận-an có một đồn, khi
    quân Pháp đến vẫn chưa xây xong.
    Đồn ấy là Cồn-cỏ do một vị quan là Trần-tiếp-Thành đứng
    đốc công phía tây đồn vẫn bỏ ngỏ để chịu đạn của quân
    Pháp.
    Việc phòng thủ cửa Thuận là một công cuộc lớn của Namtriều. Tổ chức việc che chở cho bờ cõi phía Đông, Nam-triều
    đã chẳng ngại tốn của, tốn công. Nam-quân có vì khí giới
    kém mà bị thất bại, nhưng cái khí hào-hùng còn phảng phất
    ở cửa Thuận-an, trên bãi cát trắng đã chôn mấy ngàn tử-sĩ.

    10

    https://thuviensach.vn

    MỘT HÒA ƯỚC KÝ TRÊN VŨNG MÁU
    HẢI QUÂN Pháp đã chiếm được đồn Hải-đài, ở phía bắc
    cửa Thuận. Những thành-trì kiên cố của đồn này và Ngự-lâu,
    thốt thành ra những bức tường mạnh-mẽ để che-chở cho
    11

    địch quân. Chiếc cầu lớn của Chiêu-thương cục là một công
    ty buôn của người Tầu ở cửa Thuận bị người Pháp dùng làm
    cầu đổ bộ cho pháo binh. Binh-sĩ Pháp chỉ chịu khó đẩy mấy
    ngàn xác chết của Nam-quân ở đồn và trụ-sở Chiêu-thươngcục ra là đủ có một đồn Hải-quân rộng rãi.
    Phía nam, các đồn Hà-nhuận, Hạp-châu, Lộ-châu, Cồnsơn, Cồn-cỏ, Hi-dụ và Phổ-lợi vẫn cố chống. Nhưng những
    tiếng súng lẻ tẻ bắn vào chỗ hư không như báo cho bên địch
    biết rằng Nam quân đã vì sự nghèo khí-giới, nghèo đạn dược
    mà nghèo luôn cả sự hăng hái hy-sinh cho bờ cõi.
    Mấy giờ liền, các đồn ở cửa Thuận đồng thời dâng biểu về
    triều xin viện binh. Nhưng kho tàng đã cạn, cũng như cái chí
    phấn đấu của một nửa triều đình đã chết ngay từ khi chưa có
    cuộc chiến tranh. Vua Hiệp-hòa thiết triều, các đình thần đều
    chủ hòa. Ngay tối 21 tháng tám, Nam triều cử Lại-bộ thượngthư Nguyễn-trọng-Hợp ra cửa Thuận xin đình chiến.
    Muốn cho điều đình được dễ dàng triều đình cử thêm cố
    Gaspard (cố Kim Long) cùng đi với quan Lại-bộ thượng-thư.
    Nguyễn-trọng-Hợp ra đến cửa Thuận thì trời đã tối xẫm.
    Ông hạ lệnh cho các đồn Nam đình bắn. Nhưng ngoài biển, từ
    các chiến hạm của quân ...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI TÂN - TP. HẢI PHÒNG !